Làm thế nào kể một câu chuyện chân thật về chiến tranh?

 16:26 | Thứ bảy, 03/01/2026  0
Tiểu thuyết của Quế Mai không tạo ra một bản đồ toàn cảnh về cuộc chiến mà chỉ nói về những con người bị xem là rìa mép của lịch sử: một cô gái điếm, một đứa con lai, một cựu binh... Nhưng chính họ, bằng thân thể, bằng ký ức và bằng cả sự im lặng, đã bổ sung vào gương mặt thảm khốc của cuộc chiến ở Việt Nam.

Lại là về chiến tranh. Chiến trường khốc liệt. Ám ảnh hậu chiến. Anh hùng ca. Chấn thương tinh thần. Còn điều gì chưa được nói đến trong ký ức tập thể mang tên chiến tranh này? Giữa một biển những câu chuyện đã từng được kể - về người lính, về mất mát, về hòa giải và tha thứ - người đọc ngày càng trở nên khó tính hơn trước một tiểu thuyết mới viết cùng hệ đề tài.

Suy nghĩ ấy đến với tôi khi cầm trên tay tiểu thuyết Đời gió bụi của Nguyễn Phan Quế Mai. Kèm theo đó là một loạt câu hỏi: Còn điều gì chưa được kể? Còn vết thương nào chưa được gọi tên? Liệu có lãng quên nào sẽ được nhà văn phát hiện?

Dust Child đã được 18 nhà xuất bản ở các nước mua bản quyền dịch, hiện tiểu thuyết đã dịch sang 14 ngôn ngữ và phát hành toàn cầu.


Khi đọc đến trang cuối, tôi không muốn buông sách xuống ngay, mà lật giở lại lời đề từ của tác giả: “Kính tặng những anh chị em lai và gia đình họ, những người đã chia sẻ với tôi trải nghiệm sống và lòng can đảm của họ đã gieo những hạt mầm cho quyển sách này. Kính tặng hàng triệu phận người đã bị cuốn vào vòng xoáy chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Kính tặng bất kỳ ai cuộc đời bị bạo lực chạm đến…”. 

Và tôi dừng lại thật lâu - không phải vì cuốn sách đem đến một cái nhìn mới về chiến tranh mà vì nó kéo những phận người bị bỏ quên trở lại trung tâm của lịch sử: gái điếm, con lai, những nhân chứng câm lặng của một cuộc chiến không phải do họ chọn lựa. 

*

Tiểu thuyết được cấu trúc theo nhiều tuyến truyện đan cài: tuyến quá khứ 1969 theo bước chân Trang và Quỳnh, hai cô gái từ miền quê lên tỉnh rồi trở thành tiếp viên quán bar, gắn liền với mối tình giữa Trang và người lính Mỹ tên Dan; tuyến quá khứ gần hơn, từ 1984 đến 1993, kể lại những năm tháng đầu đời của Phong, đứa con lai bị bỏ rơi; sau cùng là tuyến hiện tại năm 2016, nơi các mạch truyện hội tụ, các nhân vật dần tìm gặp nhau, trực tiếp hoặc trong ký ức.

Dù có nhiều nhân vật và nhiều lớp thời gian, câu chuyện vẫn dễ theo dõi nhờ lối kể mộc mạc, giàu chi tiết nhưng không quá dồn dập, giữ cho nhịp điệu truyện vừa phải. Có thể cảm nhận nhịp kể ấy rõ nét nhất qua mối tình giữa Trang và Dan - một cô gái điếm và một viên phi công Mỹ: khi dồn dập, cuồng nhiệt trong những cuộc làm tình say đắm; khi lắng lại, dịu dàng như buổi chiều Trang ngồi trên giường đọc thơ cho Dan nghe, hay khi cô hát ru anh ngủ, và cả lúc hai người cùng ngắm mưa rơi - Dan thì “hoảng sợ mỗi khi trời mưa to, nhưng “Kim [tên khác của Trang] nói tiếng mưa là tiếng nhạc” (tr.106).

Tiếc thay, những khoảnh khắc tĩnh lặng đẹp đến nao lòng ấy không đủ sức cứu vớt ai, không đủ để chữa lành vết thương ngày càng ăn mòn tinh thần Dan khi anh dấn sâu vào cuộc chiến, cũng không đủ để bảo vệ Trang và ước mơ tình yêu của cô. Chiến tranh rốt cuộc vẫn tràn vào tận nơi tưởng chừng là tổ ấm, như một dòng thác lũ không cách nào chặn lại. 

Có lẽ không cần phân tích thêm về những bi kịch - điều đã được thể hiện quá rõ qua hình thức thuật truyện đơn giản, không tô vẽ cũng không che giấu. Tôi lại chú ý hơn đến cách mà tác giả để nhân vật sống sót qua bi kịch ấy: bằng việc kể ra những câu chuyện không có thật.

Trong tiểu thuyết có rất nhiều câu chuyện bịa. Có những chuyện bịa đặt nhằm trục lợi hay che đậy một âm mưu. Như ông Khuất dựng chuyện nhận nuôi Phong để cả nhà được đi Mỹ theo diện con lai hồi hương. Như bà mẹ bịa ra thẻ bài lính Mỹ để mong con mình tìm được cha và bảo lãnh bà đi Mỹ. Như các câu chuyện bị bóp méo, bị biến thành công cụ tuyên truyền.

Không, tôi không muốn nói đến những kiểu bịa như vậy. Tôi muốn đề cập đến những câu chuyện được tưởng tượng ra để xoa dịu nỗi đau, để níu giữ phẩm giá, để sống tiếp. Những câu chuyện bịa nhưng không phải để dối gạt mà để chữa lành.

Có thể ba má của Trang và Quỳnh đến chết vẫn tin rằng con gái mình lên Sài Gòn làm nhân viên văn phòng, rồi lấy chồng Mỹ, sống hạnh phúc nơi xứ người qua những lá thư gửi về nhà: “Những lá thư đó hầu như không chứa đựng sự thật nào, nhưng đọc nghe thật hay...” (tr.486). Có thể Phong, đến tận cuối truyện, vẫn tin cha mình là một nhân viên hành chính người Mỹ tên Tim, từng yêu tha thiết mẹ mình và chết trong một trận càn, chứ không biết rằng Quỳnh, mẹ anh, đã bịa ra cả đoạn tiểu sử ấy để anh không phải sống trong nhục nhã, khi người cha thật có thể là bất cứ ai trong những người đàn ông đã ngủ với bà.

Nguyễn Phan Quế Mai và bài báo chị viết năm 2015 dựa trên các cuộc phỏng vấn cựu binh Mỹ từng có con với phụ nữ Việt khi tham chiến tại Việt Nam. Sau dự án nghiên cứu về trải nghiệm sống của những người con lai Việt - Mỹ, chị viết tiểu thuyết Đời gió bụi. Ảnh: Minh Hòa


Những câu chuyện hư cấu như một di sản truyền đời, tạo thành lịch sử của một cá nhân, một gia đình, rồi dần dần của cả một cộng đồng, chỉ với một mục đích: để sống sót. Tác dụng của chuyện kể không chỉ để che giấu vết thương mà nó tạo ra một thực tại khác - nơi dung chứa trí tưởng tượng và biến ước mơ thành sự thật - nơi cả Trang, Quỳnh và Phong đều có thể tìm thấy tình yêu và cội nguồn đích thực. Trong một hiện thực bình thường, ai đó sẽ dễ dàng chê trách cách xử lý này: giấu chấn thương vào những câu chuyện bịa. Nhưng trong thực tại tàn khốc như chiến tranh, người ta hoàn toàn có thể chia sẻ và đồng cảm: những câu chuyện tưởng tượng là phản ánh chân thật nhất lịch sử tâm hồn con người, đối kháng với lịch sử sự kiện; là tấm gương hai mặt nghịch đảo luân phiên giữa một lịch sử giả định và một lịch sử đã diễn ra.

Lịch sử đại tự sự luôn mang dáng dấp của sự kiện, con số, tuyên ngôn và chiến thắng. Còn lịch sử cá nhân chỉ là những lời kể rời rạc, là nỗi nhớ và những câu chuyện không ai có thể kiểm chứng.

Nhưng liệu cái nào thật hơn cái nào?

Khi đọc đến gần hết cuốn tiểu thuyết, tôi lại nghĩ đến câu hỏi mà tôi đặt làm nhan đề cho bài viết này: “Làm thế nào kể một câu chuyện chân thật về chiến tranh”. Đây cũng là tên một trong những truyện ngắn nổi tiếng nhất của Tim O’Brien (How to tell a true war story), in trong tập Những thứ họ mang (The things they carried). Và tôi cũng đã tìm thấy định nghĩa về “true war story” của Tim O’Brien ngay trong truyện ngắn đó: “Chuyện chân thực về chiến tranh thì không khái quát hóa” (tr.108). Và “Một chuyện thực về chiến tranh chẳng bao giờ là về chiến tranh” (tr.118).

Chính vì thế tiểu thuyết của Quế Mai đã không tạo ra một bản đồ toàn cảnh về cuộc chiến. Nó chỉ nói về những con người bị xem là rìa mép của lịch sử: một cô gái điếm tên Trang, tên Quỳnh, một đứa con lai tên Phong, một cựu binh Việt Nam Cộng hòa tên Thiên... Nhưng chính họ, bằng thân thể, bằng ký ức và bằng cả sự im lặng, đã bổ sung vào gương mặt thảm khốc của cuộc chiến ở Việt Nam... 

*

Khoảnh khắc Dan đứng nhìn bức ảnh của Trang - bức ảnh chụp một cô gái mười tám tuổi “xinh đẹp, trẻ trung, đầy sức sống” (tr.424) - là một trong những phân cảnh lặng lẽ, lay động của tiểu thuyết. Đó là lúc Trang, người đã lội qua bùn sâu của kiếp sống, được trở về nguyên vẹn trong ký ức của người yêu cũ. Dù thời gian giữa họ đã trượt qua nhau hơn bốn mươi năm nhưng khoảnh khắc ấy vẫn kịp đến. Muộn, nhưng còn hơn không.

Và có lẽ, đó chính là điều xúc động nhất mà văn chương có thể làm được: đưa một phận người bị chôn lấp trong định kiến xã hội trở lại với ánh sáng, phục hồi toàn vẹn phẩm giá của những con người trước đó bị khinh rẻ và bị lịch sử bỏ quên. 

Nguyễn Hồng Anh

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm
Cùng chuyên mục
Xem nhiều nhất

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.