Sôi nổi và sâu đậm nhất là kỷ niệm về Tết Mậu Thân 1968: anh em đua nhau xung phong tham gia chiến dịch X4 - vận chuyển hàng trăm tấn vũ khí bằng sức người để phục vụ Tổng tấn công; chuyện ăn Tết sớm để “xuống đường” về giải phóng Sài Gòn. Không khí chợt ngậm ngùi khi nhắc đến những đồng đội ra chiến trường giữa mùa xuân nhưng đã không về, để lại những chuyện tình bi tráng …
Lời tỏ tình trước ngày Tổng tấn công
Những người đi kháng chiến xa gia đình đều giống nhau một điểm: thương nhớ người thân và thiếu thốn tình thân. Có lúc chợt nghĩ, tình báo địch chỉ cần biết được tên vợ, con của những lãnh đạo cao cấp thì biết được họ là ai: Bảy Hồng, Sáu Dân, Năm Xuân, Tư Ánh là bí danh lấy tên con của các ông Phạm Hùng, Võ Văn Kiệt, Mai Chí Thọ, Trần Bạch Đằng; con các ông khi ấy đều ở miền Bắc.
Tổng biên tập đầu tiên của báo Giải Phóng có bí danh Kỳ Phương vì vợ ông tên Kỳ; tổng biên tập thứ hai - ông Thép Mới - có bí danh Hồng Châu vì vợ ông tên Châu; cả hai bà vợ khi ấy đang ở Hà Nội. Ông Trần Tâm Trí, chánh văn phòng báo Giải Phóng, người cùng nhà báo Thái Duy từ miền Bắc đi bộ vượt Trường Sơn mấy tháng ròng để kịp ra số báo Giải Phóng đầu tiên ở chiến khu vào ngày 20.12.1964; con gái ông tên Tâm và con trai ông tên Trí. Lời tuyên truyền “cộng sản vô gia đình” rõ ràng là từ những người chẳng hiểu biết về đời sống tinh thần của đối phương!

Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ thăm cơ quan báo Giải Phóng năm 1969. Từ trái: nhà báo Mai Dưỡng, nhà báo Thái Duy, phóng viên Huỳnh Đức, Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ, nhà báo Cao Kim, nhà báo Nguyễn Hồ ngồi sau nhà báo Cao Kim, nhà báo Đinh Phong (đứng). Ảnh tư liệu
Tình đồng đội không thể thay thế được tình gia đình, cho nên, rất nhiều mối quan hệ “ba, mẹ nuôi”, “anh, chị em nuôi” phát sinh công khai, hoặc ngầm hiểu qua đối xử. Chị Liên, quê Củ Chi, vào chiến khu khi mới 15 tuổi, được phân công làm “chị nuôi”, nấu ăn cho cơ quan mấy chục người. Chị Liên nhận tôi là em nuôi khi tôi được phân công giúp chị làm bếp. Chị hay hỏi han, trò chuyện, vá quần áo cho tôi, vì mỗi năm chỉ được cấp một bộ, dầm mưa dãi nắng vài tháng là rách bươm. Mãi sau này, khi gặp lại, tôi đã ngoài 50, chị là cán bộ Ủy ban Kiểm tra của Thành ủy, vẫn trìu mến gọi tôi là “em nuôi”.
Trong số nhân viên của báo Giải Phóng, anh Quốc Hùng, trạc 20 tuổi, quê Mỹ Tho, da trắng, chân mày đậm, người cao dong dỏng, vui tính, có lẽ là người đẹp trai nhất cơ quan. Anh được phân công điều khiển tập thể dục mỗi buổi sáng, lúc 5 giờ rưỡi, và huấn luyện quân sự cho thanh niên cơ quan. Gần sáu mươi năm trôi qua, kể cả khi du học ở nước ngoài, tôi vẫn nhớ và tập thể dục sáng theo tám động tác học từ ngày ấy: thở, tay, lườn, bụng, vặn mình, chân, toàn thân và thăng bằng.
Khi đó, năm 1966, trong cơ quan có hai nhân viên nhỏ tuổi là Trần Phan Nam 14 tuổi (con chú Mười Tân, thư ký ông Mai Chí Thọ, sau này Nam là Giám đốc Công ty Bao bì TP.HCM) và tôi, 13 tuổi. Tuy nhỏ tuổi, chúng tôi vẫn phải công tác hàng ngày như người lớn, nhưng tùy theo khả năng và sức lực. Nam đánh máy giỏi nên chuyên đánh máy, còn tôi làm giao liên và ghi tin đọc chậm của Thông tấn xã Việt Nam phát hàng ngày để các phóng viên sử dụng viết báo.
Vốn mê đọc sách, tôi lại được giao quản lý “thư viện”, mà thực ra chỉ là vài trăm cuốn sách cùng báo chí lưu trữ của cơ quan. Rảnh thì giúp chị nuôi làm bếp, hoặc đi đặt bẫy thú, hái rau rừng cải thiện bữa ăn. Chúng tôi cũng phải học quân sự như mọi người. Quốc Hùng tập cho chúng tôi cách trườn, bò dưới làn đạn thấp, ném lựu đạn và bắn súng. Chúng tôi tập bắn với khẩu súng trường “bá đỏ” (K44) hoặc CKC của Trung Quốc, bắn từng phát một; phải làm đúng bảy “yếu lĩnh” (chắc học từ Hồng quân Trung Quốc!): giương súng, kề vai, áp má, nheo mắt, lấy đường ngắm, nín thở, bóp cò!

Một buổi họp Ban biên tập báo Giải Phóng trong chiến khu năm 1969: bên trái trong cùng là Tổng biên tập Thép Mới, kế đó là tác giả. Ảnh tư liệu
Sau trận càn Junction City (1967), Mỹ thất bại vì không đạt được các mục tiêu đề ra trước đó, một không khí hồ hởi, phấn chấn hiện lên trên gương mặt mỗi người: cấp trên chỉ đạo chuẩn bị tổng tấn công toàn miền Nam, giải phóng Sài Gòn. Thanh niên báo Giải Phóng tham gia chiến dịch X4, vận chuyển vũ khí phục vụ Tổng tấn công. Hàng trăm tấn vũ khí hiện đại (H12, B41, DKP, PRD, AK47…), đóng trong những thùng gỗ, in những ký hiệu tiếng Nga, được xe tải chở từ cảng Sihanoukville về căn cứ Tà Nốt (Tây Ninh). Từ Tà Nốt, vũ khí được chuyển về Bến Ra bằng đôi vai của hàng trăm thanh niên thuộc các cơ quan Trung ương Cục, rồi từ Bến Ra được chuyển bằng xuồng theo dòng Vàm Cỏ Đông về hướng Sài Gòn, giao cho bộ đội chủ lực ngay trước xuân Mậu Thân 1968.
Sau chiến dịch X4, mỗi cơ quan đều phải cử một số người tham gia chiến đấu ở Sài Gòn, gọi là “xuống đường”! Ở báo Giải Phóng, nhiều người xung phong “xuống đường”, nhưng cơ quan chỉ chọn một số, trong đó có chị Liên và anh Quốc Hùng. Chị Liên được phân công vào đội biệt động. Trong vòng mấy tuần, chị được dạy võ, dạy bắn súng hai tay. Quốc Hùng được phân công làm quận ủy viên quận 6, chiến đấu rất xông xáo, gan dạ.
Cuộc chiến đấu ở Sài Gòn và vùng ven vô cùng ác liệt, lực lượng giải phóng hy sinh nhiều. Ai sống sót trở về là may mắn. Chị Tư Bao, cùng cơ quan, bị bắt giam, tra tấn, mấy năm sau mới ra tù. Anh Cảnh Hân, quê Nghệ An, người hiền lành, nho nhã, là phóng viên báo Giải Phóng, đã hy sinh tại Sài Gòn.

Một cuộc họp mặt báo Giải Phóng sau năm 1975. Hàng trước từ trái: nhà báo Tô Quyên, cô Diệp Tú Anh, nhà báo Kỳ Phương, nhà báo Trần Tâm Trí, kỹ sư Lê Văn Thả - nguyên thứ trưởng Bộ Tư pháp Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Ảnh: CTV
Sau Tết Mậu Thân, chị Liên về lại cơ quan. Nghe chị Liên kể, tôi mới biết chuyện tình của hai người: “Ảnh để ý chị hồi nào, chị đâu biết. Thỉnh thoảng ảnh nói mấy câu bâng quơ, chị đỏ mặt, chẳng trả lời được câu nào. Trước ngày đi, ảnh nói nhỏ: “Tối nay ra chỗ bếp Hoàng Cầm, tui có chuyện muốn nói”.
Hồi đó, nam nữ yêu nhau phải báo cáo tổ chức, xin tìm hiểu nhau. Nếu muốn cưới thì phải được tổ chức đồng ý. Nếu là đoàn viên, tuổi còn trẻ, thì được cho lời khuyên “3 khoan”: chưa yêu thì khoan yêu; lỡ yêu rồi thì khoan cưới; cưới rồi cũng nên khoan có con! Mỗi lần hẹn gặp nhau cũng phải báo cáo, phải ngồi đối diện, ở giữa có ngọn đèn dầu. “Ảnh nói chuyện gì với chị?”, tôi hỏi. “Ảnh nói để ý chị, thương chị lâu nay, nhưng chưa nói ra: Lần này ra chiến trường, vào lòng địch, không biết sống chết ra sao, Liên có chờ tui không? Tim chị đập thình thịch, cảm giác lạ lùng chưa từng có. Chị thương ảnh quá nên trả lời đại: Chờ chớ sao không. Anh nhớ trở về nghe”.
Quốc Hùng không giữ được lời hứa. Anh đã chiến đấu rất dũng cảm, đã ngã xuống và mãi mãi nằm lại vùng ven Sài Gòn.
Cái chết nẩy mầm cho sự sống
Cuối năm 1965, sau ba ngày đi xe đạp từ Củ Chi, vượt rừng Bời Lời, ngủ một đêm ở suối Bà Hảo, đoàn chúng tôi gồm ba anh thanh niên và hai “thằng nhỏ” là tôi và Trần Phan Nam, cùng chú Tám Văn, cán bộ Văn phòng Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam, về đến báo Giải Phóng. Tôi được đưa về bộ phận hành chánh - quản trị, do chú Trần Huân Phương, bí danh là Hùng Anh hay Ba Hùng, phụ trách. Chú Ba Hùng có vợ là cô Diệp Tú Anh, công tác cùng cơ quan. Cả hai đều là gốc người Hoa.

Mặt trước bia kỷ niệm báo Giải Phóng tại Lò Gò - Xa Mát (Tây Ninh) . Ảnh: TTN
Về cơ duyên trở thành cán bộ của báo Giải Phóng, cô Tú Anh kể: “Tôi ra tù trước ông ấy, sau đó mất liên lạc. Mãi đến năm 1964 chúng tôi may mắn gặp lại nhau ở cơ quan Hoa vận. Đám cưới giữa chiến khu Củ Chi đơn sơ, chỉ có trà, bánh kẹo và nhiều cán bộ Hoa vận T4 cùng sự chứng kiến của nhiều bạn tù của tôi và ông ấy. Sau đám cưới, anh Hùng Anh về làm việc tại báo Giải Phóng, tôi cũng theo chồng về đó phụ trách Chi hội Phụ nữ của báo”.

Mặt sau bia kỷ niệm báo Giải Phóng tại Lò Gò - Xa Mát (Tây Ninh) . Ảnh: TTN
Đã quen với cuộc sống cơ quan Trí vận Sài Gòn - Gia Định trong những xóm làng giải phóng ở Củ Chi, Bến Cát, giờ chúng tôi phải thích nghi dần với đời sống chiến khu ở giữa rừng sâu. Không bị địch càn quét, dội bom pháo thường xuyên hay bất chợt, nên nếp sinh hoạt ở chiến khu R tương đối đều đặn, chặt chẽ.
Mỗi buổi chiều, chú Ba Hùng chủ trì cuộc họp của bộ phận hành chánh - quản trị. Từng người phải báo cáo tình hình trong ngày của mình gồm: công tác, đoàn kết, cảnh giác và “linh tinh đề nghị”, nghĩa là muốn đề nghị gì cũng được! Những năm 1965 - 1967, tài chính của cách mạng còn rất nghèo. Chúng tôi chỉ được cung cấp lúa, phải phân công nhau xay, giã, sàng, sẩy để có hạt gạo tương đối trắng cho bữa cơm, nhưng được dặn là không giã trắng quá, giữ lại lớp cám để có vitamine B1.
Nhà là những căn lán tự xây, cột bằng cây căm xe, mái thì hái lá trung quân về chầm, lợp. Lá trung quân rất khó cháy, dù khô cong. Thực phẩm thì tự chăn nuôi, trồng trọt, bổ sung cho những bữa khô, mắm theo tiêu chuẩn được cung cấp. Mỗi tối thứ Bảy, họp cơ quan xong thì được “liên hoan” bằng chén chè đậu xanh nấu với đường chảy, một loại đường thốt nốt rẻ tiền.
Chú Ba Hùng là người phụ trách, nhưng cũng trực tiếp chia sẻ công việc với cấp dưới. Có chút tiền gia đình gửi, chú mua đồ đãi anh em. Chú còn biết nấu ăn. Những ngày lễ, chú làm những món ngon như nhà hàng từ nguồn chăn nuôi tự túc, đặc biệt là món cơm gà, ai ăn cũng khen. Ai chưa rành việc thì chú tận tình hướng dẫn. Anh em trong cơ quan ai cũng thương chú vì cái tính hiền lành, chân thật và tốt bụng.
Chính những ngày tháng gian nan và nguy hiểm đó, con trai của cô chú, Trần Diệp Tuấn (hiện là Chủ tịch hội đồng trường Đại học Y Dược TP.HCM - TTN) đã ra đời. Khi cô Tú Anh chuyển dạ, chị Út Gương - vợ nhà báo Trần Bé - đã chở cô đến bệnh viện Liên Cơ (liên cơ quan - TTN) để sanh. Ở đó, các y bác sĩ đã đóng chiếc bàn sanh bằng cây rừng vì trước đó ở đây không có ai đến sanh, và Diệp Tuấn chính là đứa bé đầu tiên chào đời trên chiếc bàn sanh thủ công ấy.
Chú Ba Hùng hì hụi đóng cho vợ, con cái giường bằng cây rừng, lót lá cho êm, đào một cái hố dưới gầm giường để đốt củi sưởi, vì buổi tối ở rừng sâu rất lạnh. Có lần, B52 ném bom bi trúng căn cứ, chú đẩy vợ, con vào bên trong căn hầm chật, còn mình thì ngồi phía ngoài để lỡ có văng miểng thì chú hứng cho vợ con. Lần khác, cô vào rừng hái lá xông cho một đồng chí bị cảm. Diệp Tuấn đang ngủ ngon trong lán thì bất ngờ B52 ném bom gần tòa soạn. Dứt bom, cô chạy về lán thì không tìm thấy Diệp Tuấn. Tim cô tan nát, ngỡ con bị làm sao. Té ra, nhà báo Đinh Phong đã kịp bế Tuấn xuống hầm an toàn.

Cuộc hội ngộ năm 2017 của luật sư Trương Trọng Nghĩa và GS-TS-BS. Trần Diệp Tuấn (phải) tại nơi cậu bé Tuấn chào đời 50 năm trước trong chiến khu Lò Gò - Xa Mát (Tây Ninh).
Sau trận càn Junction City, cuối năm 1967, chú Ba Hùng và cô Tú Anh được điều về cơ quan Hoa vận để chuẩn bị Tổng tấn công vào Sài Gòn. Diệp Tuấn khi đó mới 10 tháng tuổi, cô chú đành gửi về Campuchia cho người anh đang hoạt động hợp pháp ở Phnom Penh nuôi. Hai người được điều về hai cánh khác nhau. Khi chia tay, chú chưa biết cô đã mang thai đứa con thứ hai. Cô Tú Anh kể lại lời chú dặn dò: “Chiến tranh còn dài và ác liệt, nếu anh chết trước, em ráng bớt đau buồn để có sức làm việc và nuôi dạy con nên người. Con của chúng ta phải được sống để trở thành những con người có ích cho xã hội và đi con đường mà cha mẹ đã đi”.
Một năm sau, cô Tú Anh tìm về căn cứ thăm chồng, nhưng không gặp được. Tổ chức đưa cho cô một ba lô cùng những kỷ vật là bức ảnh, chiếc radio, một chiếc đèn con, mấy bộ quần áo và tờ giấy báo tử. Một ngày đầu xuân 1968, chú Ba Hùng đã hy sinh cùng người em trai Lâm Toàn của mình, trong một trận pháo kích của địch, khi mới 37 tuổi. Chú không được biết mình đã có đứa con trai thứ hai tên Trần Diệp Dũng.
Cô Tú Anh lúc ấy mới ngoài ba mươi, phải gửi Diệp Dũng về Quảng Nam cho mẹ chăm lo để tiếp tục hoạt động cách mạng. Sau 30.4.1975, cô tiếp tục công tác, ở vậy nuôi hai con khôn lớn, thành đạt. Khi còn khỏe, cô vẫn về họp với báo Giải Phóng hàng năm, hay nhắc lại bài hát tôi thường hát khi còn ở chiến khu: Trăng thu chiếu sáng trên dòng sông… Cô được trao huy hiệu 70 năm tuổi Đảng và qua đời ở tuổi 93.
Vĩ thanh
Trong cuộc Tổng tấn công Xuân 1968, tôi cũng có một người thân hy sinh giữa chiến trường. Tết nào nhà tôi cũng cúng giỗ, tưởng niệm ông. Đó là đại tá, anh hùng liệt sĩ Nguyễn Thế Truyện, một sư trưởng nổi tiếng của Quân Giải phóng miền Nam. Từng công tác trên cùng địa bàn hoạt động của ông từ năm 1966 đến 1967, nhưng mãi đến mười tám năm sau tôi mới được biết đến ông khi gặp, yêu và lấy con gái ông làm vợ.

Cuộc họp của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định triển khai kế hoạch chiến dịch Tết Mậu Thân 1968. Trong ảnh: ông Nguyễn Thế Truyện (người đứng giữa đeo kính, mặc áo đen), ngồi bên phải ông Truyện là ông Mai Chí Thọ. Ảnh: Dương Thanh Phong
Nguyễn Thế Truyện quê Hải Phòng, kháng chiến chống Pháp tại Nam bộ, rồi tập kết ra Bắc. Miền Bắc những năm ấy được Tố Hữu mô tả bằng những gam màu tươi sáng:
Ồ thích thật, bài thơ miền Bắc
Rất tự do nên tươi nhạc, tươi vần
Cả không gian như xích lại gần
Thời gian cũng quên tuần quên tháng
Đang sống êm đềm với vợ và ba đứa con ở Hà Nội, đứa lớn nhất lên chín, đứa bé nhất mới mười tháng tuổi, ông đã xung phong trở lại miền Nam để tham gia xây dựng những đơn vị quân chủ lực đầu tiên của Nam bộ. Những chiến dịch nổi tiếng của Quân Giải phóng Miền Nam như Bình Giã, Đồng Xoài, Dầu Tiếng đều có sự tham gia chỉ huy của ông. Trong trận càn Junction City, sư đoàn 5 mà ông là tư lệnh, cùng sư đoàn 9, là hai đơn vị chủ lực bảo vệ sự an toàn của Trung ương Cục Miền Nam. Ông là một trong hai chỉ huy quân sự cao nhất hy sinh tại chiến trường Sài Gòn trong Tết Mậu Thân.
Trương Trọng Nghĩa