Carl Thayer: Nửa thế kỷ quan sát nhịp đập Việt Nam

 08:09 | Thứ sáu, 01/05/2026  0
Trong giới nghiên cứu quốc tế, Carlyle Alan Thayer là một chuyên gia thường xuyên được trích dẫn những nhận định quan trọng về tình hình Biển Đông, về các kỳ Đại hội Đảng hay sự dịch chuyển địa chính trị tại Đông Nam Á.

Thay vì nhìn Việt Nam qua lăng kính ý thức hệ hạn hẹp, bằng một tình cảm gắn bó với Việt Nam đã kéo dài gần 60 năm, Carl Thayer sớm định hình một thế giới quan độc lập: Việt Nam là một quốc gia thống nhất, quyền tự quyết phải thuộc về người Việt. Sự tò mò của ông không dừng lại ở việc tìm hiểu “kẻ thù” là ai hay họ suy nghĩ gì, mà sâu sắc hơn, đó là nỗ lực thấu cảm để hóa giải những định kiến sai lầm từ sự can thiệp của nước ngoài. 

"Thầy giáo Tây" giữa lằn ranh khói lửa An Lộc

Hành trình của Carl Thayer với Việt Nam bắt đầu bằng sự tò mò của một trí thức trẻ tại Đại học Brown. Năm 1963, giữa những biến động chính trị dồn dập từ vụ ám sát các tổng thống đến sự leo thang quân sự của Mỹ, Thayer quyết định bỏ ngành hóa học chuyển sang khoa học chính trị.

Trước khi đến Sài Gòn, Thayer đã là một “nhà quan sát” từ xa qua những trang báo quốc tế và các nghiên cứu về Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Ghi khắc lập luận của GS. Hans Morgenthau rằng sự can thiệp của Mỹ là “phản tác dụng”, ông thôi thúc tìm đường đến Việt Nam không phải với tư cách binh sĩ, mà là một tình nguyện viên hòa bình.

Tháng 5.1967, Thayer gia nhập Cơ quan Chí nguyện Quốc tế (IVS). Sau khóa học tiếng Việt cấp tốc, ông bắt đầu cuộc sống của một thầy giáo trẻ tại trường trung học An Lộc, tỉnh Bình Long. Tại đây, chàng thanh niên Mỹ ngỡ ngàng trước cảnh học trò đồng loạt đứng dậy chào thầy và lóng ngóng với những dãy bàn dài song song cách ngăn sự tương tác mỗi cá nhân học trò. “Tôi vẫn nhớ kỷ niệm đẹp về những chuyến đi xe máy sáng sớm đi ăn bít tết bò và khoai tây chiên. Khi về Sài Gòn, lúc rảnh, tôi thường mặc cả với tài xế xe lam, gọi món ăn từ các quán vỉa hè. Đó là lúc tôi yêu thích phở, chả giò và nước mắm”, ông nhớ về sự gắn kết ít ỏi với đời sống bản địa, trong lần đầu đến Việt Nam. 

GS. Carl Thayer trong hội thảo về Biển Đông năm 2023. Ảnh: Ninh Hạ 


Bước ngoặt khốc liệt nhất đến vào Tết Mậu Thân 1968. Từ một thầy giáo, Thayer trở thành nhân chứng của cuộc di tản quy mô lớn. Ông bị kẹt giữa Sài Gòn, chứng kiến cảnh khói lửa. Khi tiếng súng lắng xuống, ông cùng đồng nghiệp IVS trực tiếp hỗ trợ người dân di dời đồ đạc đến các khu tái định cư. Trải nghiệm ấy khắc sâu vào lòng ông một bài học đắt giá: đằng sau những phân tích chính trị khô khan là nỗi đau thực chất của những con người bình thường.

Giữa năm 1968, khi giáo dục bị đình trệ bởi chiến sự, Thayer rời Việt Nam sang Botswana dạy học. Tại châu Phi, ông vẫn đều đặn đặt báo Sài Gòn qua đường bưu điện để dõi theo từng biến động ở quê hương thứ hai. 

Từ giảng đường Yale đến cầu nối ngoại giao tại Úc

Rời châu Phi, Thayer chuyển hóa trải nghiệm thực địa tại Sài Gòn thành nền tảng học thuật vững chắc. Ông đoạt học bổng thạc sĩ tại Đại học Yale, nơi ông đưa ra lựa chọn chiến lược: chuyên sâu khoa học chính trị và tiếng Việt. Tại đây, Thayer may mắn được Giáo sư Huỳnh Sanh Thông - dịch giả lừng danh với bản dịch Truyện Kiều, dẫn dắt.

Giáo sư Thông đã dạy cho Thayer tư duy cốt lõi: không thể hiểu thấu đáo Việt Nam chỉ qua lăng kính chính trị khô khan mà thiếu đi sự thấu cảm về thi ca và tâm hồn dân tộc. Những giờ học đọc Truyện Kiều đã giúp Thayer giải mã khuôn khổ tư duy và các “từ khóa” văn hóa của người Việt. Sau này, khả năng đọc hiểu sâu các ấn phẩm như báo Nhân Dân, Quân đội nhân dân hay tạp chí Cộng sản đã trở thành công cụ sắc bén giúp ông phân tích các quyết sách của Việt Nam từ bên trong.

Năm 1971, khi Mỹ rút quân và sự quan tâm học thuật với Đông Nam Á suy giảm, Thayer chuyển hướng sang Úc - nơi đang ưu ái cho phong trào nghiên cứu khu vực. Ông nhận học bổng tiến sĩ tại Đại học Quốc gia Úc (ANU) dưới sự hướng dẫn của Robert J. O’Neill, tác giả cuốn sách về Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Luận án của Thayer về nguồn gốc Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam không chỉ là công trình khoa học, mà là nỗ lực giải mã quá trình ra quyết định phức tạp của Đảng Lao động Việt Nam giai đoạn 1954 - 1960.

GS. Carl Thayer trong chuyến thực địa tại Nha Trang 2016. Ảnh: Ninh Hạ


Mối liên kết của Thayer bước sang trang mới thực tiễn hơn khi Úc công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào năm 1973. Là chuyên gia hiếm hoi am tường về Việt Nam, Thayer trở thành cầu nối quan trọng, vừa tham gia phong trào phản chiến vừa tư vấn cho chính phủ mới. Ông nhớ lại: “Tôi được Đại biện lâm thời Nguyễn Dy Niên đề nghị báo cáo về định hướng chính trị của truyền thông Úc” - một minh chứng cho sự tin cậy mà Việt Nam dành cho ông.

Sự nghiệp của Thayer tiếp tục gắn liền với những thời điểm lịch sử. Ngày đầu tiên ông nhận việc tại Học viện Quân sự Hoàng gia Duntroon (1979) cũng chính là ngày nổ ra cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Việt Nam. Cuộc phỏng vấn trên đài phát thanh quốc gia sáng hôm đó đã định danh Carl Thayer như một tiếng nói chuyên gia hàng đầu có khả năng giải mã những biến động phức tạp của Việt Nam cho giới quân sự Úc.

Từ năm 1985, tại Học viện Lực lượng Quốc phòng Úc (ADFA), ông tiên phong đưa Việt Nam vào chương trình giảng dạy chính thức. Những chuyến thực địa từ năm 1981 giúp ông thiết lập mạng lưới sâu rộng với các học giả như GS. Đào Văn Tập, GS. Tương Lai và đặc biệt là cuộc phỏng vấn với Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, mở ra cơ hội nghiên cứu về vấn đề Campuchia sau này, và trở thành quan sát viên Liên Hiệp Quốc tại đây năm 1993. 

Ngay cả khi nghỉ hưu vào năm 2010 với danh hiệu Giáo sư Danh dự (Emeritus Professor), Carl Thayer vẫn chưa dừng lại. Ông tiếp tục điều phối học thuật cho các sĩ quan cấp đại tá của Việt Nam và dành tâm huyết hướng dẫn thành công nhiều luận án tiến sĩ cho các học giả Việt Nam về Biển Đông, Tiểu vùng sông Mekong và ngoại giao công chúng.

Giải mã mạch ngầm chính trị từ kho lưu trữ và mạng lưới xuyên quốc gia 

Lợi thế giúp Carl Thayer có những hiểu biết sâu sắc về hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam không đến từ sự ngẫu nhiên, mà từ sự kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu khắt khe và những cơ hội lịch sử độc nhất.

Nền tảng quan trọng nhất được đặt tại Đại học Yale, nơi ông nghiên cứu lịch sử Việt Nam tiền thực dân và tham gia những cuộc tranh luận học thuật nảy lửa nhất thời Chiến tranh lạnh: Hồ Chí Minh là người cộng sản hay người theo chủ nghĩa dân tộc?  “Tôi đọc bốn cuốn tuyển tập gồm các bài phát biểu và các bài viết của Hồ Chí Minh và sử dụng nguồn tài liệu phong phú của Thư viện Sterling Memorial thuộc Đại học Yale”, Thayer giải thích cho quá trình xây dựng cái nhìn đa chiều, vượt khỏi những định kiến thông thường của phương Tây bấy giờ.

Một trong số nhiều hội thảo mà Carl Thayer tham gia tại Việt Nam. Ảnh: TLNV


Trong khi thế giới còn chia cắt, Thayer đã tận dụng tối đa những lợi thế từ nước Úc - nơi không hạn chế nhập khẩu các ấn phẩm cộng sản. Qua kênh Xunhasaba, ông đều đặn tiếp cận báo Nhân Dân, tạp chí Học Tập từ những năm 1954 - 1960. Việc đi sâu vào quá trình ra quyết định của Đảng Lao động giai đoạn này giúp ông nắm bắt được “mạch ngầm” chính sách của Việt Nam ngay cả khi internet chưa xuất hiện và các phiên họp chính trị còn rất kín kẽ.

Đặc biệt, Thayer sở hữu một mạng lưới quan hệ xuyên lục địa hiếm có. Ông xây dựng kết nối với các học giả kỳ cựu tại Mỹ từ năm 1974, thiết lập giao lưu với các nhà ngoại giao, du học sinh Việt Nam tại Úc từ rất lâu trước khi Mỹ bình thường hóa quan hệ. Giai đoạn sau 1980, ông tiếp tục mở rộng nhãn quan khi kết nối với các học giả tại Đông Nam Á, Trung Quốc, Nga am tường về Việt Nam. Sự tương tác này giúp ông hiểu rõ về sự phát triển của các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp cấp thấp và cấp cao ở Việt Nam, cùng kế hoạch ba năm lần thứ nhất và kế hoạch năm năm lần thứ nhất của Việt Nam, ảnh hưởng từ Trung Quốc cũng như những tác động từ cải tổ của Liên Xô đến tiến trình Đổi mới năm 1986.

Chính sự kiên trì theo đuổi các nguồn tư liệu gốc, kết hợp với các cuộc thảo luận trực tiếp với những người trong cuộc, đã tạo nên một Carl Thayer với khả năng phân tích không dựa trên suy đoán, mà dựa trên một hệ thống dữ liệu được bồi đắp liên tục từ lịch sử đến hiện tại. Từ một người đi tìm lời giải về “đối thủ”, Carl Thayer trở thành một nhà học thuật tận tụy, dành cả sự nghiệp để thúc đẩy sự hiểu biết và hỗ trợ một Việt Nam đang trên hành trình phục hồi, vươn mình ra thế giới.  

Đối thoại với Người Đô Thị  

Duy trì nhịp độ quan sát Việt Nam liên tục, ông làm thế nào để định vị được những bước chuyển mình của Việt Nam qua từng lần trở lại?

Mặc dù đã đến Việt Nam 50 lần, nhưng các chuyến đi của tôi tương đối ngắn, chủ yếu tham dự hội nghị hoặc thực hiện một số nghiên cứu ngắn gọn.

Một nhà ngoại giao nước ngoài ở Hà Nội từng nói với tôi rằng ông ấy nhìn Việt Nam như một bộ phim, trong khi tôi nhìn Việt Nam như một bức ảnh. Mỗi lần trở lại Việt Nam, tôi đều mong chờ được chứng kiến một sự phát triển mới. Ví dụ, tôi từng mô tả những chuyến đi của mình là “năm của cột ăng-ten truyền hình”, hoặc “năm của máy photocopy” (được đặt giữa đường để hỗ trợ giải quyết thủ tục hành chính), “năm của những tòa nhà cao tầng”, hoặc “năm của xe máy”.

Là một nhà nghiên cứu, tôi luôn xúc động trước sự khéo léo và sáng tạo của người Việt, trước sự giảm nghèo và bất bình đẳng giới ở Việt Nam.

Tôi ngưỡng mộ và tôn trọng hệ thống gia đình mở rộng và sự kính trọng dành cho người lớn tuổi. Tôi luôn ngưỡng mộ sự tận tâm của người Việt Nam đối với giáo dục và những hy sinh mà các gia đình đã làm để tạo cơ hội cho con cái mình. Tôi đặc biệt xúc động khi các thành viên gia đình từ Việt Nam đã lặn lội đến Úc để tham dự lễ trao bằng tiến sĩ cho con cháu họ.

Chắc chắn những thay đổi ở các thành phố lớn của Việt Nam đã gây ấn tượng mạnh cho ông?

Năm 1981, sân bay Nội Bài là một nhà ga nóng bức và bụi bặm. Khi đến, du khách phải xuất trình tất cả ngoại tệ và các thiết bị điện tử như radio sóng ngắn, máy ghi âm và máy ảnh để ghi lại số seri. Chuyến đi từ sân bay đến Hà Nội dường như kéo dài vô tận. Vào những năm 1980, tôi chỉ có thể bay từ Bangkok đến Hà Nội, với hai hãng hàng không Thai Airways hay Air Vietnam. 

Khách sạn Thắng Lợi là khách sạn hiện đại duy nhất so với các khách sạn Thống Nhất, Hòa Bình và Dân Chủ. Dịch vụ không đạt tiêu chuẩn quốc tế. Khách được nhận hóa đơn riêng bằng giấy nâu cho đồ uống và thức ăn. Khi rời đi, tôi phải xuất trình tất cả ngoại tệ chưa tiêu, hóa đơn và các thiết bị máy móc điện tử của mình. 

Vợ chồng ông Carl Thayer với những người bạn Việt. Ảnh: TLNV


Tình hình đã hoàn toàn thay đổi. Sân bay Nội Bài giờ đây được cải tạo, nâng cấp. Visa điện tử được cấp dễ dàng, thủ tục nhập cảnh, hải quan nhanh chóng. Khách du lịch có thể đổi ngoại tệ tại sân bay. Tôi không còn phải bay đến Bangkok, hay quá cảnh TP.HCM, mà có thể bay trực tiếp từ Úc đến Hà Nội. Khách sạn Thống Nhất đã được hiện đại hóa thành Metropole. Việt Nam hiện tự hào có những khách sạn và dịch vụ đẳng cấp thế giới tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP.HCM. Năm 1981, ở Hà Nội chỉ có một hoặc hai “nhà hàng tư nhân” với giá cả hạn chế. Giờ đây, không thiếu những nhà hàng ngon, với thực đơn vô cùng đa dạng.

Năm 1981, bạn lái xe giữa đường và bấm còi để xe đạp và xe kéo tránh đường. Lượng xe cộ lưu thông rất ít và không có taxi. Giờ đây taxi có mặt khắp mọi nơi, sự hiện đại và tiện dụng của hệ thống quét mã trên taxi đã khiến tôi rất bất ngờ khi trở lại vào năm ngoái.

Tầm nhìn của ông về Việt Nam trong 10 đến 20 năm tới?

Việc này cần phải được cân nhắc kỹ lưỡng bởi cuộc chiến đang diễn ra ở Iran và sự không chắc chắn về kết quả hậu chiến. Các tuyến cung cấp dầu và khí đốt tự nhiên hóa lỏng gián đoạn dẫn đến tình trạng thiếu hụt năng lượng trên toàn cầu và tại Việt Nam. 

Nhưng tầm nhìn của tôi về tương lai là tích cực vì Việt Nam đang ổn định về chính trị và hiện đang trải qua quá trình chuyển giao lãnh đạo sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam và kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa XVI. Tôi tin Việt Nam sẽ đạt được các mục tiêu phát triển đề ra đến năm 2030. Hãy xem Việt Nam như một vận động viên đang luyện tập để giành huy chương vàng tại Thế vận hội, dù không giành được huy chương nhưng đã thể hiện hết khả năng. Chiến tranh ở Iran có thể làm chậm tốc độ tăng trưởng kinh tế, nhưng Việt Nam sẽ nỗ lực hết mình để tránh bẫy thu nhập trung bình bằng cách chuyển đổi và đổi mới.

Tiếp xúc nhiều với các thế hệ học giả và chuyên gia Việt Nam, ông đánh giá thế nào về tiềm năng và trách nhiệm của những người trẻ trong lộ trình phát triển của đất nước?

Người trẻ đang đứng trước cơ hội chưa từng có để tiếp thu kiến thức và kỹ năng, từ đó thành công và đóng góp vào sự phát triển chung của Việt Nam. Tôi giới thiệu cho họ cuốn sách sắp ra mắt do Sam Van và Sam Korsmoe đồng tác giả - 40 năm từ đổi mới đến hôm nay, kể về câu chuyện của 25 người Việt thuộc bốn thế hệ đã có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển của Việt Nam.

Việc giữ gìn bản sắc văn hóa Việt Nam sẽ góp phần tích cực vào sự phát triển cá nhân và hạnh phúc của họ. Hãy nhớ rằng Hồ Chí Minh đã sống ở nước ngoài trong một thời gian dài, mang về những kỹ năng ngôn ngữ và kiến thức nước ngoài để giành độc lập. Nhiều người trong số 25 người đó cũng đã sống ở nước ngoài thời gian dài nhưng nhận thấy cuộc sống của họ được làm giàu thêm khi trở về và hỗ trợ sự phát triển của đất nước.

Để định nghĩa thật ngắn gọn về Việt Nam sau hơn nửa thế kỷ gắn bó, ông sẽ nói gì?

Kiên cường và thực tế

Ninh Hạ thực hiện

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.