Người gieo hạt lành:

Olivier Tessier - 30 năm đồng hành cùng Viện Viễn Đông Bác cổ

 15:24 | Thứ ba, 10/03/2026  0
Cả cuộc đời gắn liền với việc nghiên cứu về nhân học, dân tộc học và lịch sử, Olivier Tessier nói rằng ông muốn được nhìn nhận là “một nhà nhân học yêu thích môn lịch sử”.

Như nhiều người trẻ đam mê khám phá các vùng đất mới, Olivier Tessier đến với Việt Nam bằng một sự tình cờ nhưng lại gắn bó như duyên nợ. “Là kỹ sư nông nghiệp phải đi thực tập 6 tháng ở nước ngoài. Olivier đã đến châu Phi, đảo Haiti nhưng chưa bao giờ đến châu Á. Olivier nghĩ đây là cơ hội tốt để tìm hiểu và chọn đến một tỉnh đồng bằng sông Hồng” - Olivier kể lại bằng tiếng Việt, chậm rãi, từ tốn và xưng tên khi nói về mình. 

Duyên nợ với làng xã Việt Nam 

Năm 1993, chàng thanh niên người Pháp ngoài 20 tuổi đến thực tập tại làng Hay, xã Nhân Dân, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ, nghiên cứu về mặt chính trị - xã hội của cách quản lý nước tưới. “Rất khó khăn thiếu thốn, chưa có điện, chưa có dịch vụ gì cả. Đi từ Hà Nội đến Phú Thọ bằng xe khách, đường đi khó lắm. Olivier không được phép ở nhà người dân, chỉ đến gặp vào ban ngày, nói chuyện có phiên dịch, tối về ăn nghỉ tại nhà văn hóa của huyện, ở vài tuần rồi về Hà Nội. Người dân ít tiếp xúc với người nước ngoài, thậm chí rất sợ, thấy Olivier họ gọi là Liên Xô” - Olivier kể.  

Nhưng 6 tháng được hòa mình vào đời sống của cộng đồng và trải nghiệm sự thân tình ấm áp của bà con làng Hay vô tình trở thành khởi đầu cho một tình cảm lâu dài hơn. Hai tuần trước khi kết thúc chuyến công tác, Olivier gặp và yêu một cô gái Việt Nam. Tình yêu đó cùng với những tình cảm tại làng Hay đã dẫn đến những thay đổi lớn cho lựa chọn tương lai của chàng kỹ sư nông nghiệp. Trở về Pháp, Olivier quyết định chuyển hướng nghiên cứu sang nhân học và dân tộc học. Ông nhận học bổng tiến sĩ của Chính phủ Pháp với đề tài ngay tại làng Hay.  

Olivier Tessier đã chọn Việt Nam nghiên cứu, lập gia đình và cống hiến. Ảnh: Nicolas Cornet 


Năm 1995, Olivier đến Việt Nam sinh sống, tập trung nghiên cứu về quan hệ xã hội trong cộng đồng làng xã ở miền Bắc. Một năm sau thì kết hôn, chính thức chọn Việt Nam là quê hương thứ hai. “Bắt đầu từ vấn đề Tất cả các làng xã miền Bắc là một thế giới riêng, một lãnh thổ riêng, Olivier đi tìm ý kiến từ cộng đồng, giải thích liệu điều đó có đúng hay không, còn điều gì chưa khái quát hết. Thực tế phức tạp hơn rất nhiều. Và Olivier đã tìm ra câu trả lời: làng xã không phải là một thế giới riêng, mặc dù đó là những năm 1995 - 1996. Người trẻ đã rời làng đến các thành phố làm việc, sinh sống. Mối quan hệ gia đình, làng xã có nhiều thay đổi, thực tế phức tạp hơn”. 

Giở từng trang trong luận án tiến sĩ mang tựa Quê hương là chùm khế ngọt, Olivier chỉ ra kết quả của 9 năm nghiên cứu, quan sát, ghi chép, sao chụp, phân tích nhận định. Không gian của những ngôi làng miền Bắc, từ đời sống thường ngày đến lễ nghi tập tục, nghi thức tôn giáo; từ việc vần đổi công nơi đồng áng đến mối liên kết, quan hệ trong cộng đồng. Các giai đoạn trong cuộc đời một con người từ khi sinh ra đến lúc chết đi, di cư, hòa nhập và đóng góp cho cộng đồng làng xã thế nào trong bối cảnh đất nước ngay sau đổi mới hiện lên như một cuốn phim tài liệu quý giá dưới quan sát của Olivier. “Olivier có bố mẹ nuôi tại làng Hay đó nhé” - chỉ vào tấm hình chụp với ông cụ Lê Kim Cương trong luận án, Olivier ngậm ngùi “trước thường về thăm nhưng cả ông và bà đã mất cách đây vài năm”. 

Ba mươi năm đồng hành với EFEO

Olivier tin mình được sinh ra là để làm việc cho Ecole Francaise d’Extrême Orient - Viện Viễn Đông Bác cổ (EFEO). Viện chính là nơi tài năng của Olivier được phát huy tối đa: “Olivier say mê nghiên cứu và thấy may mắn khi được làm những công việc mình thực sự yêu thích tại EFEO”. 

EFEO đỡ đầu và bảo trợ cho đề tài tiến sĩ của Olivier nên trong suốt thời gian quay lại Việt Nam, ông được sử dụng cơ sở vật chất, sách vở nghiên cứu và giấy giới thiệu từ Viện. Ngoài thời gian làm việc tại Đại sứ quán Pháp và các chương trình nghiên cứu của nhiều nước châu Âu, Ngân hàng Thế giới, Olivier dành thời gian cho luận án tiến sĩ và cộng tác với EFEO vì có chung đề tài nghiên cứu. Ông cho biết lúc đó EFEO thực hiện một dự án đồ sộ nghiên cứu làng xã đồng bằng sông Hồng, kéo dài khoảng 4 năm, có gần chục nhà nghiên cứu cùng thực hiện. Đề tài được xuất bản với tên Làng ở vùng châu thổ sông Hồng, vấn đề còn bỏ ngỏ bằng tiếng Việt do Philippe Papin và Olivier Tessier chủ biên. 

Olivier trở thành điều phối viên chính thức của Viện tại Hà Nội từ năm 2006. Ông bắt tay vào một trong những dự án lớn và ý nghĩa là trưng bày bảo tàng nhỏ về Hoàng thành Thăng Long nhân kỷ niệm 1.000 năm. “Đây là dự án hợp tác với Viện Khảo cổ học, nhóm chúng tôi mất 4 năm chuẩn bị và hoàn tất dự án này. Nhiệm vụ của chúng tôi là sắp xếp, pha trộn, giới thiệu, trưng bày các hiện vật lịch sử. Thách thức lớn nhất là lựa chọn hiện vật tiêu biểu thể hiện được các giai đoạn lịch sử của hoàng thành giữa hàng ngàn hiện vật, rồi viết thuyết minh, in panô để du khách có thể hiểu biết về hoàng thành” - Olivier kể.

Cũng dịp này, với vai trò là nhà nghiên cứu độc lập, Olivier thực hiện triển lãm cá nhân trình bày những nghiên cứu và sưu tập riêng về lịch sử Hoàng thành Thăng Long. Triển lãm là tập hợp các nghiên cứu, tài liệu, ảnh, bản đồ về lịch sử hoàng thành trong thế kỷ XIX, từ thời nhà Nguyễn đến thời thuộc địa Pháp. Những tư liệu này được Olivier tìm tòi, trích dẫn từ rất nhiều trung tâm lưu trữ tại Hà Nội, Pháp và trong các sách sử như Đại Nam Thực lục, Đại Việt Sử ký Toàn thư. Triển lãm rất thành công, được nhiều người chú ý.

Gần 20 năm nghiên cứu về Hà Nội, Olivier được đánh giá là nhà nghiên cứu hàng đầu về hoàng thành và Hà Nội. Ông sưu tầm được nhiều hình ảnh, bản đồ cổ về Hà Nội lần đầu tiên được biết đến khiến giới sử học bất ngờ. Bên cạnh những nghiên cứu, sưu tập tư liệu quý, Olivier còn điều phối tổ chức nhiều cuộc triển lãm, tọa đàm khác về Hà Nội xưa. Những đóng góp của ông được ghi nhận bằng giải thưởng Bùi Xuân Phái năm 2012. 

Dự án Tập bản đồ sáng lập thành phố Đà Lạt nhân dịp kỷ niệm 120 năm thành lập cũng là một kỷ niệm thú vị. Đây là dự án được UBND thành phố Đà Lạt và Đại sứ quán Pháp “đặt hàng” EFEO sưu tập và tổ chức triển lãm những bản đồ thành phố qua các thời kỳ vào năm 2013. “Ấn tượng nhất là tìm thấy một bản đồ ghi chú bằng tiếng Nhật. Sự việc bắt nguồn từ một người bạn kể rằng từng nhìn thấy bản đồ Đà Lạt chú thích tiếng Nhật. Qua nhiều mối quan hệ, giới thiệu, nhóm đã tìm ra cuốn sách có bản đồ đó, xin sử dụng và ghi chú rằng: Bản đồ của khu vực bên ngoài lãnh thổ Nhật Bản do quân đội Nhật Bản trước đây lập ở Đông Dương thuộc Pháp” - Olivier giải thích.  

Bìa cuốn Kỹ thuật của người An Nam mà Olivier đang hoàn thành phần tiếp theo


Nâng niu kho tàng tri thức Việt Nam

Chuyển vào TP.HCM từ năm 2015 cũng là cơ hội và môi trường mới cho công việc của Olivier. Ông mong muốn thực hiện bộ sưu tập “biên soạn các cuốn sách hay sang tiếng Việt”. Mong muốn đó được thực hiện khi ông gặp được đại diện NXB Tổng Hợp TP.HCM. Những con người cùng đam mê, hiểu giá trị của kiến thức, luôn trân trọng và sẵn sàng lan tỏa những kho tàng tri thức, đã cùng nhau lựa chọn, chuyển ngữ và xuất bản hơn chục cuốn sách quý do Olivier làm chủ biên. “Olivier thấy rất nhiều sách hay, như những kho tàng tri thức về Việt Nam được nhiều tác giả nổi tiếng đến thực địa ghi chép lại. Nhiều cuốn do người Pháp gốc Việt viết. Nhưng toàn bằng tiếng Pháp, tiếng Anh. Nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học và độc giả Việt Nam chưa thể tham khảo trực tiếp, vì thế Olivier tổ chức dịch và biên soạn, xuất bản. Sáu bảy năm qua đã xuất bản hơn chục cuốn, như Thể chế công ở Việt Nam thế kỷ XVIII, Khảo cổ học đồng bằng sông Mekong, Tri thức văn hóa cổ truyền Việt Nam, Điện Thần và nghi thức hầu đồng Việt Nam, Thánh Mẫu Linh Tiêm, Ký ức Đông Dương, Thế giới của truyện Nôm, Lục Vân Tiên cổ tích truyện..." - Olivier chỉ các cuốn sách đã xuất bản lưu trên tủ sách phủ kín vách tường của phòng làm việc. 

“Olivier đang hoàn tất phần tiếp theo của sách Kỹ thuật của người An Nam. Những tài liệu này chưa từng được xuất bản. Sách rất quý, là hình vẽ và chú thích từ chữ Hán - Nôm nhưng xuất bản sẽ có chú thích bằng tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp. Công trình đẹp và thú vị về văn hóa miền Bắc đầu thế kỷ XX. Thông tin và hình vẽ trong sách mô tả lại nhiều cách làm việc, kỹ thuật, suy nghĩ của người dân mà giờ đã mai một” - Olivier nói.  

Nhìn vào những việc Olivier đã làm có thể khẳng định ông là người có kiến thức rất sâu rộng về mô hình tổ chức cộng đồng làng xã tại miền Bắc. Ngoài đề tài tiến sĩ, Olivier còn viết nhiều bài báo, tham luận trình bày nhiều điều thú vị về sự hình thành, phát triển, thay đổi và thích nghi của làng xã miền Bắc trong bối cảnh phát triển của Việt Nam.

Công bố kết quả một kỳ thi hương ở Hà Nội năm 1915. Ảnh: Viện Viễn Đông Bác cổ

Vua Bảo Đại trong một đám rước lễ tế đàn Nam Giao năm 1938. Ảnh: Viện Viễn Đông Bác cổ

Ảnh tư liệu về cuộc tìm kiếm kho báu trên biển Hải Nhuận (gần Sầm Sơn) tại tỉnh Thanh Hóa năm 1934. Ảnh: Kho tư liệu trực tuyến chung của Viện Viễn Đông Bác cổ và Viện Thông tin Khoa học xã hội. 

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam hiện nay chính là Bảo tàng Louis Finot của Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp được xây dựng từ 1926. Trong ảnh là Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên cùng nhân viên của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam năm 1958. Ảnh: Viện Viễn Đông Bác cổ


Ước muốn người Việt trẻ "giao tiếp" với tiền nhân 

Văn phòng EFEO phía Nam do Olivier điều phối hiện nay cũng nhấn mạnh các dự án nghiên cứu mô hình cộng đồng tại Nam bộ cũng như cơ chế quản lý nguồn nước. Đây chính là thế mạnh và là chuyên môn mà Olivier miệt mài theo đuổi suốt 30 năm qua. Nếu không đi thực địa, hàng ngày Olivier cần mẫn đi về số 113 Hai Bà Trưng, trụ sở phía Nam của EFEO tại TP.HCM, nơi ông có căn phòng làm việc chứa đầy sách vở, bản đồ, tranh ảnh và hiện vật. Đó vừa là công cụ làm việc vừa là thành quả gắn liền với hơn 30 năm sống tại Việt Nam và đồng hành với EFEO. 

Chọn Việt Nam nghiên cứu, lập gia đình và cống hiến, Olivier đã học cả tiếng Việt, Hán - Nôm. Ông nghiên cứu và viết nhiều tài liệu bằng tiếng Việt. Một tai nạn giao thông vài năm trước tại Hà Nội khiến Olivier bị hôn mê. Khi tỉnh dậy, ông gần như đã quên hết mọi việc. “Giống như bị cúp điện đột ngột, mọi thứ trở về con số không”, ông ví von. Kiên nhẫn từng chút một, Olivier học lại tiếng Việt và tiếng Pháp từ đầu, tập lại mọi thứ để hòa nhập cuộc sống. Cuối cùng Olivier đã hồi phục, tiếp tục bận rộn với các dự án mà ông yêu thích. 

Olivier Tessier làm việc tại trụ sở phía Nam của EFEO (113 Hai Bà Trưng, TP.HCM), nơi ông có căn phòng chứa đầy sách vở, bản đồ, tranh ảnh và hiện vật.


Chỉ cuốn Đại Nam Thực lục viết bằng chữ quốc ngữ xưa, Olivier nói: “Olivier đọc hiểu các văn bản chuyên môn chủ yếu về nhân học và xã hội học, kể cả những cuốn viết bằng kiểu văn xưa như Đại Việt Sử ký hay Đại Nam Thực lục. Khó hiểu lắm nhưng phải đọc để tìm thông tin nghiên cứu”.  

Quen với cách nói chuyện của người Bắc, khi vào Nam sinh sống và làm việc, thời gian đầu, sự tự tin khi nói chuyện bằng tiếng Việt biến mất. Mất hơn 5 năm ông mới mạnh dạn hơn khi tự mình nói chuyện và phỏng vấn người dân tại đây. “Nói chuyện trực tiếp với họ mới tìm được thông tin chính xác mình muốn. Thông tin đó thường ít khi trùng khớp với thông tin mình được cung cấp chính thức. Nghiên cứu là phải vậy”, Olivier cười.

Câu chuyện của chúng tôi tạm dừng ở ý tưởng huấn luyện cho một tác nhân AI giúp dịch từ tiếng Hán - Nôm và chữ quốc ngữ xưa ra tiếng Việt đương đại. Công cụ như vậy không chỉ giúp chuyển ngữ các văn bản cổ mà còn giúp người Việt trẻ nối lại giao tiếp với tiền nhân, hiểu được các thông điệp ông cha để lại. Người đàn ông ngấp nghé tuổi lục tuần nheo mắt cười khuyến khích: “Việc của các bạn đấy, hãy làm ngay đi!”. 

Thành lập tại Sài Gòn năm 1900 (năm 1902 Viện dời ra Hà Nội) trên cơ sở là nhóm khảo cổ, Ecole Francaise d’Extrême Orient (EFEO) - Viện Viễn Đông Bác cổ là viện thứ 5 ở nước ngoài của Pháp sau Athènes, Rome, Madrid và Cairo. Khi Toàn quyền Paul Doumer ký nghị định thành lập EFEO tại Việt Nam, nhiệm vụ chính của Viện là nghiên cứu về châu Á, đặc biệt là Đông Dương. 

Dù gián đoạn 1957 - 1992, Viện đã thực hiện nhiều lĩnh vực nghiên cứu khoa học, điều tra, sưu tầm và lưu giữ nguồn tư liệu, hiện vật, bảo quản và trùng tu các di tích lịch sử, để lại nhiều kho tàng giá trị. Nhiều di chỉ liên quan đến văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn, Đông Sơn, Sa Huỳnh, Đồng Nai, Óc Eo... đều do các học giả của EFEO phát hiện, nghiên cứu, đặt tên, công bố cũng như đặt nền móng khởi đầu cho những nghiên cứu sâu hơn. Nhiều tài liệu về Việt Nam được EFEO biên soạn và công bố.

Viện cũng là trung tâm lưu trữ tư liệu đồ sộ trải dài hàng trăm năm qua từ các ghi chú, sách vở, đến hình ảnh, bản khắc, hiện vật, bản đồ, phản ánh lịch sử hình thành và phát triển không chỉ của EFEO qua các giai đoạn lịch sử mà còn của tự nhiên, văn hóa, con người, tập tục truyền thống, lễ hội, tín ngưỡng của Đông Dương, của Việt Nam. 

Năm 1993, Viện chính thức mở lại văn phòng đại diện ở Hà Nội. Ngoài trụ sở chính tại Paris, EFEO hiện có 18 trung tâm tại 12 nước, trong đó Việt Nam có hai văn phòng tại Hà Nội và TP.HCM.

 Bài và ảnh: Kim Dung

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm
Cùng chuyên mục
Xem nhiều nhất

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.