Ngày 30.4 - Hôm qua, hôm nay, ngày mai!

 07:46 | Thứ năm, 30/04/2026  0
Với tôi, mỗi lần về lại vùng rừng Lò Gò - Xa Mát (Tây Ninh) luôn là một chuyến hành hương về nơi mình đã để lại một thời thanh xuân đầy hiểm nguy và gian khổ, và may mắn sống sót cho đến ngày hòa bình.

Chuyến hành hương về thời quá vãng

Ngày 30.4 năm nay đến với bao chuyện trùng hợp ngẫu nhiên. Cách đây mấy tuần, tôi nhận được cú điện thoại của anh Ái, cựu giảng viên Đại học Bách khoa TP.HCM, nói muốn gặp. Thì ra, anh muốn tôi giúp đưa về thăm vùng căn cứ nơi ba anh, nhà báo Bùi Cảnh (Lê Phan), từng hoạt động trong kháng chiến chống Mỹ. Nơi đó đang có những di tích, những công trình tưởng niệm mà anh chưa hề đến. Trong báo Giải Phóng lúc đó có các nhà báo quê Quảng Ngãi, tập kết ra Bắc rồi đi B (vào Nam bộ), trong đó có nhà thơ Hoài Vũ và nhà báo Bùi Cảnh, mà bọn trẻ chúng tôi gọi là chú Tư Phan. 

Tôi hứa với anh và đang sắp xếp lịch thì chợt nhớ, sắp đến ngày 30.4 rồi! Với tôi, mỗi lần về lại vùng rừng Lò Gò - Xa Mát luôn là một chuyến hành hương về nơi mình đã để lại một thời thanh xuân đầy hiểm nguy và gian khổ, và may mắn sống sót cho đến ngày hòa  bình. Với anh Ái và vợ con anh, về thăm cánh rừng và dòng sông biên giới này là một sự kiện đầy cảm xúc.

Đây là nơi mà hơn 60 năm trước, cha của anh, đang sống yên bình ở thủ đô, đã nhận một nhiệm vụ bí mật cả với vợ con và đồng nghiệp: đi bộ, chịu đói, nhịn khát  nhiều tháng ròng qua hàng nghìn cây số đường mòn xuyên bao cánh rừng sâu, bao ngọn núi cao, để trở thành một trong những cây bút chủ lực của báo Giải Phóng, tiếng nói của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Khi tờ báo này ra số đầu tiên vào ngày 20.12.1964, chủ nhiệm của báo là Luật sư - Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ, và kế tiếp là Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát!

Anh Ái, vợ và con trai tưởng niệm đồng đội của cha ở báo Giải Phóng.


Chúng tôi viếng bia tưởng niệm báo Giải Phóng và các cơ quan của Ban Tuyên huấn Trung ương Cục, thắp nhang, dâng hoa tưởng niệm những đồng đội đã ngã xuống tại chốn rừng thiêng này.

Đi lần này, ngoài gia đình anh Ái, còn có ba đồng đội của tôi thời báo Giải Phóng. Đó là nhà báo Nguyễn Hồ, năm nay 84 tuổi. Anh tham gia cách mạng từ ngày Bến Tre đồng khởi, một biên tập viên chủ lực của báo Giải Phóng. Năm 1967, anh chỉ huy một tổ du kích năm người tham gia chống trận càn Junction City đánh vào căn cứ R của Trung ương Cục, với hơn ba chục ngàn quân Mỹ trực tiếp tham gia. Giữa trận càn, một trái phóng lựu phát nổ, ba người chết, một bị thương, Nguyễn Hồ thoát chết trong gang tấc. Sau này, anh là phó giám đốc Đài Truyền hình TP.HCM, nhà văn và biên kịch điện ảnh.

Cùng đi còn có Phan Anh Tuấn, tham gia kháng chiến lúc 14 tuổi, là một cán bộ chủ lực của nhà in Trần Phú trong rừng, trước khi nghỉ hưu là Chủ tịch Công ty In số 7 của Thành phố. Tuấn có một chiến tích hy hữu: khi nghe biệt kích đổ bộ xuống trảng cỏ gần cơ quan, anh xách súng chạy ra thì đạp phải mìn lá của Mỹ, mất hai ngón chân trái.

Anh kể: “Lúc tao khai thương binh, cán bộ thương bình - xã hội nói: mất mấy ngón chân, tính ra thương tật có 16%, phải 21% mới được hưởng chế độ thương binh hàng tháng. Tao chỉ được hưởng 99 đồng là chế độ thương tật một lần”! Tuấn cười hề hề, còn chúng tôi thì không cười nổi khi nhìn thấy bàn chân mất mấy ngón của anh! 

Từ trái: Phan Anh Tuấn, Nguyễn Hồ, Phan Long. Ảnh: CTV


Ba đồng đội của tôi đều chung một đặc điểm là trong dòng họ có nhiều người  tham gia cách mạng. Cô chú của Tuấn và con cái của họ cũng như Tuấn và mấy người em ruột của anh đều tham gia kháng chiến, một em gái của anh là liệt sĩ. Mấy anh em của Nguyễn Hồ cũng đi kháng chiến, một người hy sinh trong chiến tranh. Vợ anh, nhà báo Minh Hiền, thì cả năm chị em ruột đều vào chiến khu, may sống sót đủ đến ngày hòa bình.

Phan Long thì cha mẹ tham gia chống Pháp rồi chống Mỹ. Hai anh em của Long vào chiến khu từ niên thiếu. Má của Long hy sinh năm 1965 ở Bến Cát. Thạch, anh của Long là công nhân nhà in Trần Phú, đồng đội của Tuấn. Trong trận càn Junction City, Thạch cầm súng chống tăng và trúng đạn hy sinh tại chiến hào. Lúc đó, Long 13 tuổi. Cơ quan giấu Long, nhưng vô tình anh biết tin. Tối hôm đó, Long nằm khóc một mình, vì hai anh em xa cha mẹ, nhưng may được ở gần nhau, giờ chỉ còn một! 

Ngày 30.4 - Chuyện bên này, bên kia

Thời chống Mỹ, nhiều trường hợp đi kháng chiến “cả gia đình, cả dòng họ”. Trong báo Giải Phóng, không ít người là bà con nhau. Vì là bà con, họ xưng hô với nhau trong cơ quan như hồi còn ở nhà: ông, bà, cô, dì, chú, bác. Thời ấy, bà con, dòng họ kéo nhau vào kháng chiến vì yêu nước và tin yêu cách mạng, dù biết trước cái giá phải trả là những tháng ngày lao động và chiến đấu gian khổ, thậm chí tù đày, thương tật, chết chóc. Không ai mơ tưởng đến ngày thắng lợi thì mình sẽ được cấp nhà, lên lương, lên chức, được hưởng bổng lộc của nhà nước!

Cũng trong thời chống Mỹ, không ít trường hợp trong một gia đình, một dòng họ, một nửa “bên này”, một nửa “bên kia”. Trong báo Giải Phóng, có trường hợp chú Ba Phát. Ông tham gia kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, từng bị tù đày. Đang hoạt động cách mạng thì một người con trai tới tuổi quân dịch, bị bắt lính. Thời đó, trốn quân dịch là tội hình sự, phát hiện sẽ bị trừng phạt, bị tù hay bị đẩy ra chiến trường làm “lao công đào binh”. Đi lính nhưng biết “chạy” để làm lính kiểng, hoặc ghi tên cho có, cũng là một lối thoát cho nhiều thanh niên, kể cả những ai có người thân đang ở phía cách mạng. Con trai ông đi lính hải quân, từng đánh nhau với Trung Quốc ở Hoàng Sa. Ngày 30.4.1975, cha con đoàn tụ trong niềm vui lẫn nỗi buồn: vui vì còn sống và đoàn tụ; buồn vì cha thì chiến thắng, con thì thân phận “ngụy quân thua trận”, phải đi “học tập cải tạo”! 

Phan Long kể về người cô ruột, có một con là bộ đội cách mạng, một là lính pháo binh Việt Nam Cộng hòa. Có lần về dự đám giỗ mẹ của Long, anh lính Việt Nam Cộng hòa hỏi mẹ: “Mợ Út vì sao chết vậy má?”. Cô của Long trả lời: “Thì bị pháo của tụi bây bắn chết!”. Người anh là biệt động thành, hy sinh trong chiến đấu, được phong anh hùng, còn thằng em thì sau 30.4.1975 phải đi học tập cải tạo, rồi đi kinh tế mới.

Má tôi có cháu gái gọi là dì ruột. Chồng chị là trung úy đặc phủ tình báo chính quyền Sài Gòn. Anh  biết rõ má tôi là Việt Cộng chính hiệu đang hoạt động bí mật tại Sài Gòn, nhưng không hề tố cáo. Thỉnh thoảng, nghi có kẻ “bám đuôi” hay bị địch dò xét, má tôi lại rẽ vào tá túc nhà anh. Có lần, anh khuyên nhủ: “Dì lớn tuổi rồi, hay là dì nghỉ đi. Càng làm càng nguy hiểm”. Má tôi không nghe anh. Sau ngày 30.4.1975, anh đi học tập cải tạo 8 năm, vợ con ở nhà ly tán, nghèo khổ vì không được bất kỳ “tem phiếu” gì! Anh từ chối đi Mỹ diện HO mà đi Úc do con gái bảo lãnh, và chết tha hương ở đó.

Đoàn hành hương trước bia lưu niệm Trường Nguyễn Văn Trỗi thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương Cục.


Dân miền Nam tham gia chính quyền hay quân đội chế độ cũ vì biết bao lý do, hoàn cảnh; không ít trường hợp chẳng phải vì hận thù cộng sản hay bán nước cầu vinh. Cậu Sáu tôi tham gia kháng chiến chống Pháp, sau năm 1954 làm thầy giáo tiểu học tại quê nhà. Con trai với người vợ trước của ông tham gia du kích, chết trong chiến đấu. Người con thứ hai học xong tú tài, đến tuổi quân dịch, anh vào học Trường Đại học Chiến tranh Chính trị Đà Lạt, ra trường làm sĩ quan tâm lý chiến. Sau giải phóng, anh học tập cải tạo hơn một năm. Người em kế của anh đi bộ đội, đánh nhau với Polpot, là liệt sĩ chiến trường Campuchia.

Có lần anh tâm sự: “Tụi tao đâu có thù hận gì cộng sản. Không lẽ đi thù hận ba tao, hay cô ruột tao là má mày. Tụi tao cũng yêu nước Việt, ghét lính Mỹ, chán chiến tranh, mong đợi hòa bình để xây dựng đất nước”.  Lớn tuổi, thất nghiệp, vợ con đói khổ, anh vượt biên và mất tích đến giờ.

Chú Sáu Dân (Võ Văn Kiệt), trong dịp kỷ niệm 30 năm ngày 30.4 lịch sử, từng nói: “Chiến thắng của chúng ta là vĩ đại, nhưng chúng ta cũng đã phải trả giá cho chiến thắng đó bằng cả nỗi đau và nhiều mất mát. Lịch sử đã đặt nhiều gia đình người dân miền Nam rơi vào hoàn cảnh có người thân vừa ở phía bên này, vừa ở phía bên kia, ngay cả họ hàng tôi cũng như vậy. Vì thế, một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại có hàng triệu người vui mà cũng có hàng triệu người buồn” (1)

Có nhiều dịp gần gũi chú Sáu, tôi nhận ra chú là một người lãnh đạo có trái tim nhân hậu, vượt lên trên những đau thương, mất mát rất lớn của cá nhân và gia đình. Ba mươi năm sau ngày đất nước hòa bình, thống nhất, chú vẫn đau đáu nỗi lo nước còn nghèo, dân còn khổ, thù hận và phân ly vẫn rỉ máu trong tâm thức của một bộ phận người Việt trong và ngoài nước, ngày 30.4 vẫn chưa trở thành ngày “thắng lợi của cả dân tộc, không phải của riêng ai”, như câu nói đầy xúc động của Bí thư thứ nhất Lê Duẩn, khi xuống thang máy bay tại Sài Gòn vừa giải phóng. 

Khi nói về niềm vui và nỗi buồn trong ngày 30.4.1975, tôi hiểu chú Sáu muốn nhắc cả nỗi buồn trong lòng một bộ phận những người chiến thắng. Khi hòa vào khúc khải hoàn ca của dân tộc, họ không thể kìm nén được những giọt nước mắt trong lòng. Với chú Sáu, đó là niềm thương nhớ vợ và hai con bị trực thăng Mỹ bắn chết ở Củ Chi, còn con trai trưởng thì hy sinh trong chiến đấu. Với mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ, đó là nỗi đau của chín trong mười hai người con, một con rể và hai cháu ngoại hy sinh trong chiến tranh. Với hàng triệu đồng bào ta cả hai miền Nam - Bắc, đó là niềm khắc khoải đến nhói lòng khi bao người thân không về sau ngày chiến thắng, thậm chí không huân huy chương, không giấy báo tử, không mộ bia, không tin tức…

Và với riêng tôi, đó là những nén nhang tưởng niệm ba liệt sĩ trên bàn thờ: ông nội bị Pháp giết năm 1947; ba tôi bị pháo Mỹ dập và hy sinh trên đường công tác giữa Đồng Tháp Mười mùa lũ năm 1966; và ba vợ tôi bị trúng đạn trực thăng Mỹ năm 1968 khi đang chỉ huy chiến đấu tại vùng ven Sài Gòn!

Ngày 30.4 trong kỷ nguyên mới

Trong lịch sử hàng ngàn năm của nước Việt, dân tộc ta đã trải qua hàng chục cuộc chiến tranh vệ quốc, chiến đấu và chiến thắng nhiều cường quốc xâm lược. Tính từ ngày 30.4.1975, đất nước có nửa thế kỷ hòa bình, tuy cũng không trọn vẹn. Một chân lý hiển nhiên là để giữ được độc lập, chủ quyền, đất nước phải phát triển và thịnh vượng, và muốn vậy, chúng ta phải giữ được hòa bình lâu dài.

Cả loài người, trong đó có Việt Nam, đang bước vào kỷ nguyên của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, với đặc trưng cơ bản là trí tuệ nhân tạo, internet vạn vật, người máy và dữ liệu lớn. Đại hội Đảng XIV đã đề ra đường lối đi lên của dân tộc trong kỷ nguyên mới: đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, đi lên chủ nghĩa xã hội. 

Tác giả trên trảng cỏ chiến khu xưa.


Trong kỷ nguyên mới này, tôi có quá bi quan chăng khi cho rằng, vẫn luôn tồn tại nguy cơ bị xâm lược, bị lệ thuộc, bị bắt nạt, bị bắt chẹt, thậm chí bị mất chủ quyền theo những phương thức và phương tiện mới. Trong thế kỷ XX, dân tộc ta đã chiến thắng các thế lực thực dân cũ và mới, và đã giữ được độc lập, chủ quyền. Trong kỷ nguyên mới, không thể không đồng hành với nhân loại, hội nhập quốc tế sâu rộng, tôi cho rằng chúng ta vẫn phải luôn cảnh giác với các thế lực “đế quốc hậu hiện đại”, hùng mạnh và tinh vi, mà tôi tạm liệt kê: “đế quốc công nghệ”, “đế quốc tài chính”, “đế quốc tài nguyên”, “đế quốc địa chính trị”, và cả “đế quốc pháo hạm”! Để giữ vững độc lập, chủ quyền và hòa bình cho đất nước, bài học ngàn năm của nước ta là đoàn kết dân tộc. Muốn vậy, theo lời chú Sáu Dân: “Chúng ta đang nắm quyền lãnh đạo đất nước, muốn để mọi người Việt cùng chung tay hàn gắn, chung tay tạo dựng thì chúng ta phải thực tâm khoan dung và hòa hợp” (1)

Tại lễ kỷ niệm 50 năm ngày 30.4 lịch sử (1975 - 2025), Tổng Bí thư Tô Lâm đã phát biểu: “Nhận thức sâu sắc sức mạnh vĩ đại không gì sánh nổi của nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam, chúng ta quán triệt sâu sắc, thực hiện nhất quán quan điểm “dân là gốc”, con người là trung tâm, là chủ thể, là mục đích của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Triển khai mạnh mẽ chính sách hòa hợp, hòa giải dân tộc với tinh thần chúng ta đều mang dòng máu Lạc Hồng, đều là anh em ruột thịt, “như cây một cội, như con một nhà”. Tất cả người Việt Nam đều là con dân nước Việt, đều có quyền sống, làm việc, quyền tự do mưu cầu hạnh phúc và yêu thương trên mảnh đất quê hương, đều có quyền và trách nhiệm góp sức xây dựng Tổ quốc. Với chủ trương khép lại quá khứ, tôn trọng khác biệt, hướng tới tương lai, toàn đảng, toàn dân và toàn quân ta cùng ra sức phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, hạnh phúc, giàu mạnh và phát triển”(2)

Nếu chú Sáu Dân còn sống, tôi tin ông sẽ nở một nụ cười mãn nguyện, đồng tình! 

Bài: Trương Trọng Nghĩa - Ảnh: Phan Long

_____________________

(1) https://vnexpress.net/nguyen-thu-tuong-vo-van-kiet-chung-ta-dung-ru-ngu-minh-2031627.html
(2) https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/dien-van-cua-tong-bi-thu-to-lam-tai-le-ky-niem-50-nam-ngay-giai-phong-mien-nam-thong-nhat-dat-nuoc-11925043011360732.htm  
 
 

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.