Thành phố Hà Nội sẽ di dời khoảng 860.000 dân trong vài thập niên tới để tạo không gian khổng lồ cho cuộc tái cấu trúc cực lớn, hướng đến xây dựng một thủ đô “Văn hóa - Bản sắc - Sáng tạo”. Nhưng tái cấu trúc đô thị lại thường được bắt đầu từ “thay đổi con người chứ không phải nhà cửa”?
Báo cáo “Về việc xây dựng Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm” của Đảng ủy UBND Thành phố Hà Nội, phạm vi “tái cấu trúc” là toàn bộ địa giới hành chính Hà Nội khoảng 3.359,84 km², trong đó không gian vật lý vùng lõi được xác định gồm toàn bộ khu vực nội đô lịch sử và mở rộng của Thành phố. Đây là vấn đề cực lớn, tối quan trọng mà hàng triệu người sẽ chịu ảnh hưởng, nên chắc chắn chính quyền cần nghe nhiều ý kiến đóng góp.

Khu vực phường Nhân Chính (Thanh Xuân) trước đây là làng Mọc cổ nằm bên bờ Nam sông Tô Lịch, quá trình đô thị hóa đã biến nơi đây thành một khu dân cư đông đúc có mật độ xây dựng dày đặc. Ảnh: Báo Dân Trí
Điều kiện áp dụng “tái cấu trúc”?
Có lẽ không cần phải nhắc lại, Việt Nam đô thị hóa khá muộn nên việc học hỏi thế giới, từ lý thuyết đến các bài học kinh nghiệm xương máu là điều đương nhiên cần thiết. Vậy trước hết nên phân biệt “tái thiết đô thị” và “tái cấu trúc đô thị” - những khái niệm nền tảng khác nhau nhưng vẫn có thể bị hiểu là đồng nghĩa.
Tái thiết đô thị (urban reconstruction/redevelopment) là quá trình xây dựng lại đô thị sau khi cấu trúc vật thể bị phá hủy hoặc xuống cấp nghiêm trọng, nhằm khôi phục hoặc thay thế hình thái và hạ tầng đô thị(1). Xét theo bản chất khủng hoảng, tái thiết đô thị được áp dụng khi nhà cửa, hạ tầng bị phá hủy, kết cấu không còn an toàn, người đô thị không thể tiếp tục sử dụng nếu không xây mới. Ví dụ: tái thiết các thành phố châu Âu sau Thế chiến II như Warsaw (Ba Lan) hay Dresden…
Mục đích của tái thiết là khôi phục năng lực sử dụng cơ bản của đô thị và đảm bảo sự an toàn kết cấu công trình. Xét theo động lực phát sinh thì tái thiết đô thị do chiến tranh, thiên tai gây suy sụp kết cấu vật chất. Tái thiết đô thị thường sử dụng nguồn vốn lớn và cơ chế đầu tư tập trung từ nhà nước, viện trợ quốc tế, triển khai theo dự án quy mô lớn, ngắn - trung hạn. Ví dụ: Chương trình tái thiết châu Âu sau chiến tranh (Marshall Plan).
Tái cấu trúc đô thị (urban restructuring) là quá trình điều chỉnh và tái tổ chức các cấu trúc vận hành của đô thị (xã hội, kinh tế, chức năng, mạng lưới hạ tầng…) trong bối cảnh các công trình vật thể vẫn còn tồn tại nhưng không còn phù hợp với điều kiện phát triển mới(2).

Đường Vành đai 3 trên cao. Ảnh: Người Lao Động
Xét theo mục đích can thiệp thì tái cấu trúc nhằm khôi phục năng lực vận hành xã hội - kinh tế, tái kết nối cư trú - việc làm - dịch vụ, thích ứng với bối cảnh phát triển mới như toàn cầu hóa, công nghiệp hóa và hậu công nghiệp(3). Xét theo động lực phát sinh, yêu cầu tái cấu trúc đô thị xuất hiện do nền kinh tế chuyển dịch, thay đổi cấu trúc xã hội, làm biến đổi mô hình sản xuất - tiêu dùng; là những động lực mang tính chuyển hóa và thích ứng(4).
Xét theo nguồn vốn và cơ chế đầu tư thì vốn phân tán, nhiều nguồn kết hợp nhà nước - tư nhân - cộng đồng, triển khai từng bước, dài hạn. Ví dụ: các chương trình tái sinh nội đô ở Anh giai đoạn 1980-2000; tái cấu trúc các khu trụ sở của chính phủ Indonesia nhằm giảm bớt các chức năng bị quá tải sau di dời thủ đô Jakarta cũ sang Nusantara.
Tóm lại: “Tái thiết đô thị là phản ứng trước sự sụp đổ vật chất của đô thị, trong khi tái cấu trúc đô thị là phản ứng trước sự suy giảm năng lực vận hành xã hội - kinh tế của đô thị trong bối cảnh hình thái vật thể vẫn tồn tại”(4, 5).
Nhấn mạnh: “Tái cấu trúc đô thị chỉ được áp dụng khi nhà cửa, công trình hạ tầng vẫn còn nhưng chức năng, quan hệ xã hội - kinh tế bị suy giảm, đứt gãy. Đô thị tồn tại nhưng không vận hành hiệu quả”. Ví dụ: các khu nội đô hậu công nghiệp ở Anh và Mỹ sau khi nhà máy đóng cửa(4, 5).

Khi tái cấu trúc đô thị giai đoạn 2026 - 2035, Hà Nội đề xuất di dời 200.000 người ở sông Hồng; 200.000 người ở hồ Tây và phụ cận; 42.000 người ở một số tuyến phố trong phạm vi Vành đai 3. Trong ảnh: Khu vực bán đảo Quảng An, phường Tây Hồ. Ảnh minh họa: Dân Việt
“Thay người trước hay thay nhà?”
Trong đời sống, khi một gia đình gặp khủng hoảng kinh tế, hiếm khi chủ nhà chọn giải pháp bắt đầu bằng việc phá bỏ ngôi nhà đang ở để xây một ngôi nhà mới. Đầu tiên, họ thường phải thay đổi cách kiếm sống, nâng cao kỹ năng lao động của các thành viên gia đình hoặc điều chỉnh nội dung chi tiêu. Chỉ khi đổi mới mô hình sống ổn định, họ mới nghĩ đến việc sửa nhà, mở rộng, xây mới hay chuyển đến nơi ở khác.
Ẩn dụ này phản ánh logic của tái cấu trúc đô thị hiện đại: không bắt đầu từ việc thay đổi cái nhà - nói rộng ra là thành phố - mà từ việc thay đổi hoàn cảnh con người sống trong đó. Nó bao gồm tái cấu trúc việc làm, kỹ năng, mạng lưới kinh tế và quan hệ xã hội. Bởi đô thị đâu chỉ là nhà, đường, hạ tầng mà còn là hệ thống quan hệ kinh tế - xã hội - lao động - dân cư. Sự thay đổi này rất lớn, dài hạn, gồm: thay đổi nền tảng kinh tế; thay đổi phân bố dân cư - lao động; thay đổi quan hệ xã hội; rồi các thay đổi đó mới đòi hỏi phản ánh vào không gian đô thị.
Nhưng muốn thay đổi (tái cấu trúc) lại không thể không bắt đầu bằng việc nghiên cứu trạng thái xã hội của đô thị theo trật tự: “Hãy thay đổi con người trước khi thay cái nhà!”.

Khu chợ dân sinh trên phố Hàng Bè (phường Hoàn Kiếm) tấp nập người dân mua bán những ngày giáp Tết Bính Ngọ 2026. Ảnh: Vnexpress
Manchester (Anh) minh họa rõ logic này. Thành phố từng là trung tâm dệt bông lớn nhất thế giới, cũng là trung tâm công nghiệp cơ khí và chế tạo máy, hóa chất, nhuộm màu, in ấn xuất bản, điện lực, kỹ thuật quy mô; có hệ thống kho hàng khổng lồ, kênh đào Manchester Ship Canal… Nhưng Manchester - “cái nôi của Cách mạng công nghiệp” thế giới - cùng nhiều thành phố công nghiệp nổi tiếng như Detroit (Mỹ), Liverpool (Anh), Glasgow (Scotland), Essen & Ruhr (Đức)… lâm vào suy thoái nghiêm trọng trước “cú sốc” khi nhân loại từ nửa sau thế kỷ 20 bước sang giai đoạn hậu công nghiệp.
Bởi toàn cầu hóa sản xuất khiến ngành dệt may chuyển sang châu Á với chi phí lao động rẻ (Ấn Độ, Bangladesh, Trung Quốc…), công nghệ mới tự động hóa quy mô lớn dùng ít lao động hơn… khiến nửa đầu thế kỷ 20 Manchester mất gần 30% việc làm; một số ngành quan trọng giảm tới trên 60%; lao động phổ thông thì dư thừa vô số. Tức là nhà máy còn nguyên, nhà ở không suy suyển, hạ tầng đô thị vẫn dùng tốt nhưng chức năng xã hội của đô thị (theo GS-TS. Peter Hall gồm: tạo việc làm và sinh kế; tổ chức đời sống hàng ngày (ở - làm - tiêu dùng - giao tiếp); kết nối xã hội và cộng đồng; tái sản xuất xã hội (đào tạo, truyền nghề, nâng cấp kỹ năng)) đã “chết”.

Quá trình tái thiết Manchester đã đạt được thành công vang dội trong vài thập kỷ qua. Trong ảnh là Piccadilly Central – một phần của khu vực tái phát triển HS2 của Manchester. Ảnh: salboy.com
Nửa sau thế kỷ 20, Manchester tái cấu trúc đô thị để “vượt qua cái chết” bằng cuộc chuyển trọng tâm từ sản xuất công nghiệp sang hình thành, phát triển các ngành: giáo dục đại học, dịch vụ tài chính, truyền thông và công nghiệp sáng tạo, dịch vụ y tế và khu vực công - với tỷ lệ có việc làm trên 70%, cho thấy sự ổn định của cấu trúc kinh tế mới mà không cần đập phá thành phố(6).
Bài học Manchester cho thế giới biết muốn có nguồn nhân lực đô thị mới phải giữ được sinh viên sau tốt nghiệp, đào tạo lại lao động cũ và thu hút lao động trẻ vào các ngành mới. Mục tiêu chuyển đổi xã hội và tái cấu trúc nguồn nhân lực đô thị không phải bằng cách thay dân cũ bằng dân mới mà nâng cấp kỹ năng lao động hiện hữu, chuyển đổi kinh tế, tạo cơ hội chuyển đổi nghề, thu hút nhóm lao động phù hợp với cấu trúc kinh tế mới.
Trong các đô thị hậu công nghiệp, các trường đại học và hệ sinh thái tri thức phải đóng vai trò trung tâm của quá trình chuyển đổi. Những nghiên cứu về hiện tượng này đều chỉ ra rằng các thành phố thành công trong chuyển đổi thường là các thành phố xây dựng được hệ sinh thái tri thức - đổi mới - doanh nghiệp(7).
Ở Manchester, sự gia tăng số lượng sinh viên và lao động trẻ trong các ngành tri thức diễn ra trước khi các chương trình tái phát triển không gian quy mô lớn được triển khai. Điều này tự nó tạo ra nhu cầu thực về nhà ở, văn phòng và không gian sáng tạo, từ đó dẫn tới chuyển đổi không gian vật thể. Chính quyền Manchester đáp ứng bằng các triển khai cụ thể gồm: tái sử dụng nhà máy cũ, chuyển đổi đất công nghiệp, phát triển khu trung tâm mới, xây dựng không gian sáng tạo và dịch vụ, giúp chủ doanh nghiệp giảm rủi ro đầu tư và tăng khả năng hấp thụ của đô thị.
Tất nhiên không chỉ Manchester, các thành phố tái cấu trúc thành công cũng nhờ đầu tư con người trước không gian như Bilbao (Tây Ban Nha), Ruhr Region (Đức), Boston (Mỹ), Copenhagen (Đan Mạch), Helsinki (Phần Lan), Yokohama (Nhật), Seoul (Hàn Quốc), Hong Kong, Singapore… Đây là nền tảng cho tái cấu trúc đô thị: nếu vật chất chết (sụp đổ) thì tái thiết; nếu chức năng xã hội "chết" thì tái cấu trúc. Tái cấu trúc đô thị thành công luôn bắt đầu từ chuyển đổi kinh tế - xã hội, mà tái thiết không gian vật chất chỉ đóng vai trò hỗ trợ và đi sau.

Nhịp sống phố cổ hà Nội. Ảnh: Báo Nhân Dân
Hà Nội nên tái thiết hay tái cấu trúc?
Sau khi phân biệt rõ giữa tái thiết đô thị (phá bỏ - xây mới không gian vật chất) và tái cấu trúc đô thị (chuyển đổi nền tảng kinh tế - xã hội - thể chế trước khi can thiệp không gian), cũng như nhìn lại bài học quốc tế, một câu hỏi quan trọng đặt ra cho Hà Nội hôm nay là: chúng ta đang đứng trước khủng hoảng nào và phản ứng ra sao cho đúng bản chất tiến trình phát triển?
Những thành phố vĩ đại không được xây dựng lại bằng những kế hoạch vĩ đại mà bằng cách bảo tồn và nuôi dưỡng đời sống xã hội.
Nhà báo, nhà tư tưởng đô thị Jane Jacobs
Những vấn đề hiện hữu của Hà Nội như ô nhiễm, ngập lụt, ùn tắc giao thông, mật độ dân cư cao hay điều kiện sống chật chội thường được viện dẫn như những lý do “chính đáng” để đập phá và tái thiết đô thị quy mô lớn. Tuy nhiên, kinh nghiệm quốc tế lại cho thấy các hiện tượng đó phần lớn là các "triệu chứng", không phải nguyên nhân gốc rễ của khủng hoảng đô thị. Vấn đề của Hà Nội hiện nay không phải thiếu không gian mà là nguy cơ thiếu một chiến lược tái kinh tế - xã hội đúng đắn và đủ sớm để dẫn dắt sự phát triển không gian đô thị.
Ví dụ, vấn đề ô nhiễm ở Hà Nội cũng như nhiều thành phố không bắt nguồn từ hình thức nhà ở mà từ mô hình giao thông và năng lượng; ngập lụt không do đô thị cũ kỹ mà do quản trị đất và nước; ùn tắc giao thông không do mật độ tự thân mà do sự lệch pha giữa không gian ở và không gian việc làm(8).

Hà Nội những ngày mù mịt từ sáng tới đêm vì ô nhiễm không khí kéo dài. Ảnh: Công Hùng
Các ví dụ quốc tế trong nửa sau thế kỷ 20 là minh chứng điển hình cho thành phố không sụp đổ về vật chất nhưng suy thoái về kinh tế - xã hội khi việc làm truyền thống khủng hoảng, người lao động mất việc, mạng lưới xã hội tan rã. Việc phục hồi chúng không thể bắt đầu bằng phá dỡ đô thị hàng loạt mà bằng tái cấu trúc nền kinh tế đô thị, bảo tồn những cấu trúc kinh tế giá trị, thu hút các ngành mới, tái đào tạo nguồn nhân lực, phục hồi đời sống xã hội; và chỉ sau đó, không gian đô thị mới dần dần được chuyển đổi để thích ứng(9).
Hãy lắng nghe một tuyên ngôn của nữ nhà báo người Mỹ và nhà tư tưởng đô thị danh tiếng Jane Jacobs: “Những thành phố vĩ đại không được xây dựng lại bằng những kế hoạch vĩ đại mà bằng cách bảo tồn và nuôi dưỡng đời sống xã hội”.
Bài học rút ra là đập phá không gian không thể thay thế cho tái cấu trúc kinh tế và phát triển xã hội. Nếu sử dụng các vấn đề môi trường và hạ tầng để biện minh cho tái thiết vội vã sẽ có nguy cơ lặp lại những sai lầm quốc tế, nơi đô thị trông “mới” hơn nhưng vận hành kém hiệu quả hơn, đời sống xã hội bị đứt gãy và sức sống kinh tế đô thị suy giảm.
Vì vậy, dường như câu trả lời cho Hà Nội không phải là “phá dỡ để tái sinh” mà nên tái cấu trúc đúng, sớm, có kiểm soát, dựa trên hiểu biết sâu sắc về trạng thái kinh tế - xã hội đô thị, trong đó việc can thiệp không gian chỉ là bước tiếp theo khi thật sự cần thiết.
Trần Trung Chính
____________________
Tài liệu trích dẫn, tham khảo của các tác giả:
(1) GS-TS. Peter Hall (Anh, 1998).
(2) TS. David Harvey (Anh, 1989), TS Manuel Castells (Tây Ban Nha, 1996).
(3) TS. Manuel Castells, 1996; TS Peter Roberts (Anh) & ThS. Hugh Sykes, 2000.
(4,5) TS David Harvey, 1989; TS Manuel Castells, 1996; GS, TS. Peter Hall, 1998.
(6) Theo Manchester City Council, 2024.
(7) TS. Manuel Castells, 1996.
(8) GS-TS. Peter Hall, 1998; TS Peter Newman (Úc) & TS Jeffrey Kenworthy (Úc, 1999).
(9) TS. Jamie Peck & TS Kevin Ward (Anh, 2002).