Tháng 4.2023, sau khi đọc bài viết Lê Hoàng Thế - người mở đường tận tụy của tác giả Bung Trần đăng trên Tạp chí Người Đô Thị, ông Lê Minh Hoan lúc ấy đang là Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã ngay lập tức liên lạc với Người Đô Thị nhờ kết nối với TS. Lê Hoàng Thế và đã mời ông đến văn phòng Bộ ở Hà Nội nói chuyện chuyên môn với các vụ trưởng, cục trưởng và viện trưởng liên quan nông lâm nghiệp y sinh.
Cuối tháng 3.2026, khi đang trong những ngày cuối cùng của cương vị Phó Chủ tịch Quốc hội, ông Lê Minh Hoan đã viết một bài đầy trăn trở, tâm huyết về Đồng Tháp Mười thấm đẫm lịch sử và tiềm năng phát triển. Ông đã đồng ý để Người Đô Thị giới thiệu với rộng rãi bạn đọc.

Ông Lê Minh Hoan (áo trắng, bìa phải) tham dự Tọa đàm “Sống tử tế: từ đâu và từ ai?” tháng 1. 2017.
1. Một vùng đất “không dễ sống”, nhưng dạy con người cách sống
Ngày xưa, Đồng Tháp Mười là vùng đất “trắng” trên bản đồ cư trú.
Không phải vì không có đất.
Mà vì đất quá nhiều nước.
Phèn chua, lầy lội, lau sậy ngút ngàn, muỗi kêu như sáo thổi.
Mùa khô nứt nẻ.
Mùa mưa nước dâng mênh mông.
Người xưa gọi đó là vùng “đất chết”.
Nhưng chính nơi tưởng như không thể sống ấy, lại trở thành nơi dạy con người cách sống khiêm nhường với thiên nhiên.
Không chống lại nước. Mà học cách đi cùng nước.
Không cưỡng lại đất. Mà tìm cách làm bạn với đất.
Từ đó hình thành một kiểu người rất riêng: chịu thương, chịu khó, linh hoạt, và biết thích nghi.

Ông Lê Minh Hoan trong cuộc gặp TS. Lê Hoàng Thế (phải) tìm hiểu mô hình trồng nấm linh chi dưới tán rừng ở Đồng Tháp. Ảnh: Bung Trần
2. Lịch sử mở đất - không phải bằng gươm, mà bằng niềm tin
Đồng Tháp Mười không được “chinh phục” trong một ngày.
Đó là lịch sử của những bước chân lặng lẽ: những người đi khai hoang, những gia đình rời quê cũ tìm đất mới, những con người chấp nhận sống với rủi ro.
Họ đến đây không phải vì dễ. Mà vì tin rằng nơi khó khăn nhất, cũng có thể trở thành nơi sống được.
Họ đào kênh.
Họ đắp bờ.
Họ trồng lúa trong phèn.
Họ dựng nhà trên nền đất còn ướt.
Không ai gọi họ là “anh hùng”. Nhưng chính họ đã viết nên một chương rất nhân văn của lịch sử: lịch sử của sự kiên trì.

Lịch sử Đồng Tháp Mười là những bước chân lặng lẽ: những người đi khai hoang, những gia đình rời quê cũ tìm đất mới... Ảnh minh họa. Ảnh: Báo Long An
3. Đồng Tháp Mười – nơi thiên nhiên và con người “đàm phán” với nhau
Ở nhiều nơi, con người tìm cách chế ngự thiên nhiên.
Nhưng ở Đồng Tháp Mười, con người học cách “đàm phán” với thiên nhiên.
Nước về - không phải là tai họa, mà là mùa cá tôm.
Phèn - không phải là kẻ thù, mà là thử thách cần hiểu.
Từ đó sinh ra mùa nước nổi, lúa nổi, sen mọc giữa đầm sâu, những nghề gắn với con nước.
Đó không chỉ là kỹ thuật canh tác. Mà là một triết lý sống:
Không phải cái gì cũng phải thắng.
Có những thứ, phải biết thuận theo để cùng tồn tại.

Thu hoạch lúa ma ở VQG Tràm Chim Tam Nông. Bông lúa ma vươn cao lên khỏi mặt nước lũ để làm đòng, chín, lại rụng để nối tiếp mầm xanh cho sự sống ở Ðồng Tháp Mười. Ảnh: Vnexpress
4. Một vùng đất của ký ức kháng chiến và nghĩa tình
Đồng Tháp Mười không chỉ có thiên nhiên.
Nơi đây từng là căn cứ kháng chiến, là vùng che chở, nuôi giấu, bảo vệ.
Những cánh rừng tràm, những đầm lầy… không chỉ là sinh thái, mà còn là “lá chắn sống”.
Trong những năm tháng gian khó người dân chia nhau từng hạt gạo, nuôi giấu cán bộ, đi qua bom đạn bằng những chiếc xuồng nhỏ.
Lịch sử ở đây không ồn ào. Nhưng đậm nghĩa tình.
Có những điều không ghi trong sách, nhưng vẫn được truyền lại qua câu chuyện kể bên bếp lửa, qua những ánh mắt hiểu nhau không cần nói.
5. Lịch sử nhân văn - nằm ở cách người ta đối xử với nhau
Có lẽ điều làm nên “lịch sử nhân văn” của Đồng Tháp Mười không chỉ là khai hoang, kháng chiến hay phát triển.
Mà là cách con người nơi đây đối xử với nhau.
• Người đi trước mở đường cho người đi sau
• Người có kinh nghiệm chỉ lại cho người mới đến
• Người khó khăn được cộng đồng nâng đỡ
Từ đó hình thành một “văn hoá cộng đồng”: không ai bị bỏ lại một mình giữa đồng nước.
6. Từ “vùng trũng” trở thành “vùng giá trị”
Hôm nay, Đồng Tháp Mười không còn là vùng “đất chết”.
Nơi đây đã trở thành vựa lúa lớn, vùng sen đặc trưng, vùng sinh thái quý giá, điểm đến du lịch trải nghiệm.
Nhưng nếu chỉ nhìn vào thành tựu hôm nay, ta sẽ bỏ quên điều quan trọng hơn: mọi giá trị hôm nay đều được “ươm” từ lịch sử nhân văn ngày trước.

Người dân Đồng Tháp Mười thu hoạch lúa. Ảnh: SGGP
7. Một lời gợi mở cho hôm nay
Lịch sử không chỉ để nhớ. Mà để soi lại cách mình đang đi.
Nếu ngày xưa, người Đồng Tháp Mười biết bắt đầu từ điều khó nhất, biết đi cùng thiên nhiên, biết nương tựa vào cộng đồng, thì hôm nay, câu hỏi đặt ra là ta có còn giữ được những giá trị ấy không?
Trong một thời đại con người thường chạy nhanh hơn, làm nhiều hơn, cạnh tranh mạnh hơn, liệu ta có còn sống hài hòa hơn, nghĩ dài hơn, và gắn kết với nhau hơn?
8. Kết
Có người nói: Đồng Tháp Mười là vùng đất “thấp”. Nhưng chính vùng đất thấp ấy, lại nâng lên những giá trị rất cao của con người biết nhẫn nại, biết thích nghi, biết yêu thương, biết giữ nghĩa.
Và có lẽ, đó mới chính là điều làm nên lịch sử nhân văn của một vùng đất.
Không phải là những gì đã qua. Mà là những gì còn tiếp tục sống trong cách con người đối diện với đất, với nước, và với nhau… mỗi ngày.
Lê Minh Hoan, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc Hội, nguyên Bộ trưởng Nông nghiệp và Môi trường, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp.