Quy hoạch ven sông Hồng: Không gian thoát lũ là “giới hạn đỏ” của Hà Nội

 19:34 | Thứ năm, 14/05/2026  0
Trong các đề xuất phát triển đại lộ ven sông Hồng, không gian hai bên bờ thường được nhìn như quỹ đất chiến lược cho giao thông, cảnh quan và đô thị mới. Tuy nhiên, câu chuyện không chỉ nằm ở giao thông hay cảnh quan đô thị, mà còn liên quan trực tiếp đến an toàn thủy văn của toàn bộ Thủ đô, bởi phía sau những bản vẽ quy hoạch là một giới hạn gần như không thể thỏa hiệp: chức năng thoát lũ của dòng sông.

Trao đổi với Người Đô Thị, GS-TS. Vũ Trọng Hồng, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, nguyên Chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam, cho rằng “không gian thoát lũ” phải được xem là giới hạn đỏ trong mọi kịch bản quy hoạch, bởi chỉ một sai lệch trong quản lý lòng sông cũng có thể tạo ra rủi ro rất lớn cho Hà Nội trong tương lai. Nếu xem nhẹ không gian thoát lũ này, Hà Nội sẽ phải đối mặt với những rủi ro vượt xa phạm vi của một dự án hạ tầng đơn thuần.

GS-TS. Vũ Trọng Hồng, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, nguyên Chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam.


Không gian thoát lũ là giới hạn không thể vượt qua

Thưa GS-TS. Vũ Trọng Hồng, trong các đề xuất phát triển trục đại lộ ven sông Hồng, nhiều ý kiến cho rằng bài toán lớn nhất không nằm ở thiết kế hay vốn đầu tư, mà ở giới hạn thoát lũ của dòng sông. Với góc nhìn của một chuyên gia thủy lợi, ông đánh giá mức độ ràng buộc của các yêu cầu như lưu lượng khoảng 20.000 m³/s hay mực nước lũ thiết kế 13,4 m đối với quy hoạch đô thị hai bên sông hiện nay như thế nào?

Theo tôi, vấn đề quan trọng nhất của thoát lũ sông Hồng không chỉ nằm ở con số lưu lượng hay mực nước thiết kế, mà là không gian lòng sông. Trong các nguyên lý thủy lợi, lòng sông là đường thoát lũ và đã là đường thoát lũ thì không được có vật cản. Nếu dòng chảy bị cản trở, nước sẽ dâng lên, gia tăng áp lực lên hệ thống đê và nguy cơ vỡ đê là hoàn toàn có thể xảy ra.

Tuy nhiên, thực tế ở Hà Nội hiện nay cho thấy khu vực bãi sông đã bị lấn chiếm trong nhiều năm. Mùa khô, người dân dựng lán trại, kinh doanh, buôn bán ngay trong không gian thoát lũ. Điều này rất nguy hiểm nếu không được kiểm soát chặt chẽ trước mùa mưa lũ.

Sông Hồng đoạn qua khu vực nội đô Hà Nội hiện vừa được xem là không gian phát triển chiến lược, vừa là hành lang thoát lũ quan trọng của Thủ đô. Ảnh: CTV


Tôi cho rằng ràng buộc lớn nhất đối với quy hoạch sông Hồng chính là phải giữ được không gian thoát lũ. Những thông số như lưu lượng khoảng 20.000 m³/s hay mực nước lũ thiết kế 13,4 m đều là cơ sở kỹ thuật quan trọng, nhưng điều cốt lõi vẫn là không được làm thu hẹp hoặc cản trở lòng sông. Đây cũng là nguyên tắc đã được quy định rõ trong Luật Đê điều và Luật Phòng chống thiên tai.

“Giới hạn đỏ” trong mọi quy hoạch ven sông Hồng phải là bảo vệ không gian thoát lũ, không để bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào tạo ra vật cản trong lòng sông vào mùa mưa lũ.

Có thể cho phép một số hoạt động tạm thời vào mùa khô, nhưng trước mùa lũ phải kiểm tra và giải tỏa toàn bộ vật cản. Việc này cần có cơ chế giám sát thường xuyên của lực lượng đê điều, phòng chống thiên tai và các cơ quan chức năng.

Ngoài ra, Việt Nam còn chịu tác động từ việc xả lũ thượng nguồn. Nếu xảy ra tình huống nước dâng đột ngột mà lòng sông bị lấn chiếm, chúng ta sẽ rất khó xử lý kịp thời. Vì vậy, theo tôi, “giới hạn đỏ” trong mọi quy hoạch ven sông Hồng phải là bảo vệ không gian thoát lũ, không để bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào tạo ra vật cản trong lòng sông vào mùa mưa lũ.

Theo quy định của Luật Đê điều và các quy hoạch phòng chống thiên tai, khu vực giữa hai tuyến đê phải được duy trì như không gian thoát lũ tự nhiên. Trong thực tế, việc phát triển đô thị trong khu vực này có thể được cho phép đến đâu, và đâu là những giới hạn mà quy hoạch buộc phải tuân thủ?

Khu vực giữa hai tuyến đê trước hết vẫn phải được xem là không gian thoát lũ. Vì vậy, nếu khai thác để phát triển đô thị hay dịch vụ thì cũng chỉ nên cho phép những hoạt động tạm thời, linh hoạt và có khả năng tháo dỡ nhanh khi có cảnh báo lũ. Không thể xem đây là đất xây dựng ổn định như trong đô thị thông thường.

Một vấn đề rất quan trọng là sông Hồng còn chịu tác động từ việc xả lũ ở thượng nguồn Trung Quốc. Trong thực tế, chúng ta không thể hoàn toàn trông chờ vào việc phía Trung Quốc sẽ thông báo đầy đủ hay kịp thời. Vì vậy, Việt Nam phải chủ động xây dựng hệ thống giám sát và cảnh báo riêng.

Theo các chuyên gia thủy lợi, việc xuất hiện vật cản trong không gian thoát lũ có thể làm gia tăng áp lực dòng chảy và rủi ro đối với hệ thống đê điều khi mùa lũ đến. Ảnh: Xuân Vũ


Trước đây, chúng ta từng có các tổ công tác ở khu vực biên giới theo dõi mực nước, khi nước vượt ngưỡng thì báo khẩn cấp về địa phương để sơ tán dân và xử lý tình huống. Theo tôi, nếu muốn phát triển không gian ven sông thì phải khôi phục và nâng cấp hệ thống này, bao gồm các trạm đo lũ ở thượng nguồn và hệ thống thông tin kết nối trực tiếp với hạ du.

Tôi cho rằng có thể cho người dân khai thác một phần không gian bãi sông vào mùa khô, nhưng các công trình phải mang tính tạm thời, dễ thu dọn và phải chấp nhận nguyên tắc: khi có cảnh báo lũ là phải di dời ngay. Điều quan trọng là Nhà nước phải có năng lực cảnh báo sớm và tổ chức ứng phó kịp thời.

Nói cách khác, giới hạn lớn nhất của quy hoạch vẫn là không được làm mất chức năng thoát lũ tự nhiên của dòng sông. Muốn phát triển thì phải đi cùng với một hệ thống quản lý rủi ro đủ mạnh.

Phối cảnh trục đại lộ cảnh quan sông Hồng với quy mô khoảng 11.400 ha đất, tổng chiều dài hai bên sông 80 km, được quy hoạch trở thành trục không gian trung tâm, là động lực phát triển mới của Thủ đô. Ảnh: Ảnh cắt từ video trình chiếu tại kỳ họp HĐND TP Hà Nội ngày 11.5.


Rủi ro đến từ sự can thiệp vào dòng sông

Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy hình thái sông Hồng đang có biến động, lòng dẫn thay đổi theo thời gian và chịu tác động của biến đổi khí hậu. Điều này ảnh hưởng như thế nào đến độ tin cậy của các kịch bản quy hoạch dài hạn, đặc biệt với những dự án lớn như đại lộ sông Hồng?

Một khi nói đến biến động của sông Hồng thì không chỉ là câu chuyện biến đổi khí hậu hay các kịch bản thủy văn, mà còn là vấn đề quản lý dòng sông. Muốn quy hoạch dài hạn thì trước hết Nhà nước phải quản lý nghiêm việc bảo vệ lòng dẫn và tuân thủ Luật Đê điều.

Chúng ta từng có nhiều bài học lớn từ khai thác cát quá mức. Có những trường hợp lòng sông bị biến dạng nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến công trình hạ tầng và an toàn dòng chảy. Điều đó cho thấy hình thái sông không phải là yếu tố cố định, mà có thể thay đổi rất nhanh nếu con người tác động thiếu kiểm soát.

Các kịch bản quy hoạch dài hạn chỉ có thể đáng tin cậy khi đi kèm một cơ chế giám sát và kiểm soát thường xuyên đối với khai thác cát và các hoạt động tác động đến lòng sông. Nếu quản lý lỏng lẻo thì mọi tính toán quy hoạch đều có thể bị phá vỡ.

Vì vậy, tôi cho rằng các kịch bản quy hoạch dài hạn chỉ có thể đáng tin cậy khi đi kèm một cơ chế giám sát và kiểm soát thường xuyên đối với khai thác cát và các hoạt động tác động đến lòng sông. Nếu quản lý lỏng lẻo thì mọi tính toán quy hoạch đều có thể bị phá vỡ.

Trước đây chúng ta từng có các lực lượng chuyên trách kiểm tra hoạt động khai thác cát trên sông, kể cả tuần tra ban đêm để xử lý vi phạm. Theo tôi, công tác này cần tiếp tục được duy trì và tăng cường, bởi bảo vệ lòng dẫn cũng chính là bảo vệ an toàn lâu dài cho toàn bộ hệ thống quy hoạch ven sông Hồng.

Một số chuyên gia cảnh báo rằng nếu thu hẹp hành lang thoát lũ hoặc tăng mật độ xây dựng ở bãi sông, dòng chảy có thể bị “nén lại”, làm tăng áp lực lên hệ thống đê điều. Theo ông, rủi ro này có thực sự đáng lo ngại không, và Hà Nội cần thận trọng đến mức nào khi đặt mục tiêu đô thị hóa mạnh hai bên sông?

Những cảnh báo này hoàn toàn có cơ sở, bởi những người đưa ra ý kiến đó đều là những người có kinh nghiệm trong công tác phòng chống lũ lụt. Khi đô thị hóa quá mạnh và hành lang thoát lũ bị thu hẹp, dòng chảy sẽ thay đổi, áp lực nước có thể dồn sang các khu vực khác và gây ra rủi ro rất lớn cho hệ thống đê điều.

Hệ thống sông ngòi ở Việt Nam có tính liên kết rất cao. Có những con sông không lớn nhưng khi nước từ nhiều nhánh dồn về cùng lúc vẫn có thể gây vỡ đê. Điều đó cho thấy chỉ cần một thay đổi trong không gian dòng chảy cũng có thể tạo ra hậu quả dây chuyền.

Với sông Hồng, mức độ rủi ro còn nghiêm trọng hơn vì đây là khu vực liên quan trực tiếp đến an toàn của Thủ đô. Một khi lũ lớn xảy ra thì thường không kịp trở tay. Vì vậy, các quy định về hành lang thoát lũ phải được xem là bắt buộc và cần kiểm soát rất nghiêm mọi hành vi vi phạm.

Tôi cho rằng trong bối cảnh áp lực phát triển kinh tế và bất động sản ngày càng lớn, Hà Nội càng phải thận trọng hơn trong việc cấp phép xây dựng ở khu vực bãi sông và lòng sông. Theo tôi, nguyên tắc quan trọng nhất vẫn là không để các hoạt động phát triển làm cản trở khả năng thoát lũ tự nhiên của dòng sông.

GS-TS. Vũ Trọng Hồng cho rằng cần cải tạo đập Đáy và nghiên cứu lại các vùng chậm lũ nhằm giảm áp lực cho hệ thống sông Hồng khi xuất hiện lũ lớn. Ảnh: Viện Quy hoạch Thủy lợi


Nhiều ý kiến cho rằng để giảm áp lực cho sông Hồng, cần cải tạo đập Đáy nhằm khôi phục khả năng phân lũ sang sông Đáy, thay vì để công trình vận hành hạn chế như hiện nay. Ông nhìn nhận thế nào về đề xuất này?

Tôi hoàn toàn đồng tình với quan điểm cần cải tạo đập Đáy để tăng khả năng thoát lũ cho hệ thống sông Hồng. Đây là công trình đã có từ rất lâu, nhưng nhiều thời điểm việc vận hành còn chậm và thiếu chủ động. Nếu khi lũ lớn xảy ra mà không mở kịp để phân lũ thì sẽ rất nguy hiểm cho hạ du, đặc biệt là khu vực Hà Nội.

Theo tôi, nếu xác định sông Đáy là hướng phân lũ quan trọng thì trước mùa mưa phải kiểm tra, vận hành thử hệ thống đóng mở thường xuyên để bảo đảm khi cần có thể xả lũ ngay. Hiện nay công nghệ hoàn toàn cho phép tự động hóa và nâng cao năng lực vận hành công trình này.

Hà Nội là khu vực đặc biệt nhạy cảm trước nguy cơ lũ lụt. Chúng ta từng có nhiều bài học về vỡ đê và ngập lụt trong quá khứ. Vì vậy, mọi dấu hiệu bất thường của dòng chảy hay hệ thống phân lũ đều cần được xử lý sớm, không thể chủ quan hay chậm trễ.

Trước đây, ngoài sông Đáy, miền Bắc còn có các vùng chậm lũ tự nhiên ở những khu vực dân cư thưa thớt. Khi lũ quá lớn, nước sẽ được đưa vào những vùng này để giảm áp lực cho hệ thống đê điều và khu vực trung tâm. Nhưng hiện nay nhiều vùng chậm lũ đã bị thu hẹp do phát triển kinh tế và dân cư.

Nếu muốn bảo đảm an toàn lâu dài cho Hà Nội thì ngoài việc cải tạo đập Đáy, Nhà nước cũng cần nghiên cứu khôi phục hoặc quy hoạch lại các vùng chậm lũ phù hợp. Đây là giải pháp khó vì liên quan đến đất đai, dân cư và đền bù, nhưng về lâu dài vẫn cần tính đến nếu muốn bảo vệ an toàn cho Thủ đô.

Điều quan trọng nhất là phải nhìn nhận Hà Nội là khu vực đặc biệt nhạy cảm trước nguy cơ lũ lụt. Chúng ta từng có nhiều bài học về vỡ đê và ngập lụt trong quá khứ. Vì vậy, mọi dấu hiệu bất thường của dòng chảy hay hệ thống phân lũ đều cần được xử lý sớm, không thể chủ quan hay chậm trễ.

Bài toán quy hoạch ven sông Hồng không chỉ liên quan đến phát triển đô thị mà còn gắn trực tiếp với an toàn đê điều và năng lực ứng phó thiên tai của Hà Nội. Ảnh: Tiền Phong


Muốn phát triển phải đầu tư cho năng lực phòng chống lũ

Từ kinh nghiệm quản lý ngành thủy lợi nhiều năm, ông cho rằng đâu là hướng tiếp cận hợp lý để vừa khai thác không gian ven sông Hồng cho phát triển đô thị, vừa bảo đảm an toàn thoát lũ lâu dài cho Thủ đô? Những nguyên tắc nào cần được coi là “giới hạn đỏ” trong mọi phương án quy hoạch?

“Giới hạn đỏ” quan trọng nhất là phải bảo đảm an toàn cho người dân và duy trì được không gian thoát lũ của dòng sông. Nhưng bên cạnh đó cũng phải nhìn nhận nhu cầu phát triển đô thị và nhu cầu sử dụng không gian ven sông của người dân là có thật. Vì vậy, vấn đề không phải là cấm tuyệt đối hay mở hoàn toàn, mà là tìm được cách hài hòa giữa hai yêu cầu đó.

Tôi cho rằng có thể cho phép khai thác một phần không gian ven sông, nhưng đi kèm phải là một hệ thống quản lý rủi ro rất chặt chẽ: từ các trạm quan trắc, cảnh báo lũ, lực lượng ứng trực mùa mưa bão cho tới phương án sơ tán dân khi có tình huống khẩn cấp. Nếu mở không gian cho phát triển mà không chuẩn bị đầy đủ năng lực phòng chống thiên tai thì sẽ rất nguy hiểm.

Kinh nghiệm của tôi nhiều năm trong ngành thủy lợi cho thấy, khi xảy ra lũ lớn thì yếu tố quyết định không chỉ là công trình mà còn là khả năng tổ chức ứng phó tại chỗ. Trước đây, mỗi mùa mưa lũ đều có các đoàn kiểm tra xuống địa phương, rà soát đê điều, chuẩn bị phương án di dân, cứu hộ, hậu cần... Những kinh nghiệm này theo tôi cần được khôi phục và duy trì thường xuyên, bởi lũ lụt là loại thiên tai không thể xử lý chỉ bằng lý thuyết hay công nghệ.

Ký ức về những trận lũ lớn trong quá khứ là lời nhắc rằng quy hoạch ven sông không thể tách rời bài toán an toàn thủy văn dài hạn (trong ảnh: lụt tháng 9.2024 do ảnh hưởng bão Yagi). Ảnh: Lao Động


Hiện nay, một rủi ro đáng lo là sự xuất hiện của nhiều thủy điện nhỏ trên các hệ thống sông. Nếu vận hành không đúng quy trình, đặc biệt trong các đợt mưa lũ lớn, hậu quả có thể rất nghiêm trọng. Chúng ta từng chứng kiến những trường hợp xả lũ chậm hoặc phối hợp không đồng bộ khiến lưu lượng nước tăng đột ngột, gây thiệt hại lớn cho vùng hạ du. Điều đó cho thấy quản lý dòng chảy phải được đặt trong một hệ thống giám sát thống nhất và phản ứng rất nhanh.

Ngoài ra, tôi cho rằng cần nâng cao nhận thức cộng đồng về thiên tai. Người dân phải được hướng dẫn kỹ năng ứng phó, hiểu các tín hiệu cảnh báo và biết cách sơ tán khi cần thiết. Trong nhiều trường hợp, kinh nghiệm thực tế và khả năng phản ứng nhanh còn quan trọng hơn cả công nghệ.

Với sông Hồng, bài toán cuối cùng vẫn là phải cân bằng giữa phát triển và an toàn. Có thể mở rộng không gian cho đô thị, nhưng tuyệt đối không được đánh đổi khả năng thoát lũ và sự an toàn của Hà Nội.

Trang Ngọc thực hiện

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.