Tại Hội thảo Đầu tư theo phương thức đối tác công tư trong lĩnh vực văn hóa ở Việt Nam hiện nay - Những vấn đề lý luận và thực tiễn do Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức ngày 26.6, các chuyên gia khẳng định xuất bản, dịch thuật, âm nhạc, điện ảnh hay di sản từ lâu đã được thế giới nhìn nhận là những ngành công nghiệp văn hóa cốt lõi, mang nội hàm kinh tế lẫn giá trị ngoại giao sâu sắc.

Hội thảo ghi nhận nhiều ý kiến từ các giảng viên, nhà nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách và đại diện các công ty tư nhân.
Tư duy “bốn nhà” trong quản trị văn hóa
ThS. Cao Xuân Phong, Viện Chiến lược và Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp), cho rằng bản chất văn hóa thuộc về giá trị tinh thần, không có cấu hình kỹ thuật hay chuẩn mực rõ ràng như các dự án hạ tầng giao thông. Nghệ sĩ và khu vực tư nhân luôn mang tư duy sáng tạo không giới hạn. Do đó, PPP không đơn thuần là để huy động vốn, mà chính là tạo ra hành lang pháp lý nhằm định hướng các sáng tạo tư nhân đi đúng quy chuẩn của Nhà nước, khuyến khích những sáng tạo tích cực, đồng thời hạn chế những thay đổi làm sai lệch hoặc tổn hại các giá trị truyền thống.
Bàn sâu hơn, TS. Lê Xuân Tùng, Viện Chiến lược và Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp), nhấn mạnh việc hợp tác công tư trong văn hóa đặt ra bài toán đo lường hiệu quả rất khác biệt, đòi hỏi phải cân bằng chặt chẽ giữa hai cấu phần là hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Khung lý thuyết này yêu cầu dự án phải dựa trên các nguyên tắc toàn diện, kết hợp định tính với định lượng, phù hợp với hệ thống thể chế. Đồng thời, tránh tình trạng khai thác thương mại quá mức làm suy thoái tài nguyên văn hóa quốc gia.

Nhìn từ trường hợp người chèo đò ở Ninh Bình, cộng đồng là đối tượng được hưởng lợi từ hợp tác công – tư. Ảnh: Minh Đường
Trong khi đó, ThS. Lê An Na, Viện trưởng Viện Đổi mới sáng tạo văn hóa, giáo dục và khởi nghiệp (VICEE), đề xuất cần nâng cấp mô hình hợp tác truyền thống. Thay vì chỉ áp dụng mô hình “3 nhà” gồm: Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp như trước đây, văn hóa cần có sự tham gia của “nhà” thứ tư là cộng đồng và các tổ chức kiến tạo xã hội. Trong mô hình “4 nhà”, các bên sẽ cùng đồng kiến tạo, đồng cơ hữu, đồng sở hữu và đồng chia sẻ các giá trị cũng như trách nhiệm, từ đó mang lại lợi ích lớn hơn rất nhiều cho xã hội.
Những rào cản thực tế và trăn trở của người trong cuộc
Hành lang pháp lý tại Việt Nam đã có những bước chuyển dịch quan trọng. Phương thức PPP chính thức mở rộng sang lĩnh vực văn hóa thông qua các văn bản pháp lý ban hành từ năm 2024 đến năm 2026, tiêu biểu là sự kế thừa từ bước thí điểm trong Nghị quyết 98 của TP.HCM. Dù vậy, thực tế triển khai hiện nay lại đang bộc lộ rất nhiều điểm nghẽn. Điều này tạo ra không ít trăn trở cho cả các chuyên gia lẫn doanh nghiệp trong cuộc.
Điểm nghẽn lớn nhất khiến nhiều dự án đình trệ nằm ở câu chuyện định giá tài sản công và không gian di sản. Ông Nguyễn Đình Nguyên, CEO Công ty cổ phần Tò He, chia sẻ khi công ty của ông đặt vấn đề hợp tác tại khuôn viên Văn Miếu – Quốc Tử Giám, thách thức lớn nhất là không bên nào có thể định giá được giá trị phi vật thể của không gian văn hóa này, để làm cơ sở tính toán tỷ lệ góp vốn. Bên cạnh đó, tiếp cận các tài sản công vật lý như công viên hiện vẫn gặp nhiều rào cản về thẩm quyền quyết định giữa các cấp chính quyền.

Doanh nhân Nguyễn Đình Nguyên chia sẻ về rào cản định giá và tư duy quản lý văn hóa.
Sự bất đối xứng về tư duy và năng lực giữa dòng vốn tư nhân với cơ chế quản lý nhà nước cũng là một rào cản nghiêm trọng được ông Nguyễn Đình Nguyên thẳng thắn chỉ ra. Đại diện các cơ quan quản lý nhà nước thường xuất thân từ chuyên môn thuần túy về quản lý văn hóa nên góc nhìn kinh doanh và tư duy của doanh nghiệp không khớp nhau, gây khó khăn cho quá trình hợp tác.
Thêm vào đó, dù các cơ quan chức năng luôn nói về định hướng phát triển văn hóa, nhưng doanh nghiệp vẫn chưa thấy có sự hỗ trợ thực chất nào về mặt hạ tầng hay các nguồn vốn ưu đãi trong giai đoạn nghiên cứu và thử nghiệm sản phẩm vốn rất khó khăn này.
Sự lệch pha này còn thể hiện trong ngành xuất bản và dịch thuật, một lĩnh vực cốt lõi nhưng ít được chú ý hơn âm nhạc hay điện ảnh. TS. Phạm Minh Quân, Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật (ĐHQGHN), trăn trở các nhà xuất bản hiện nay có xu hướng rơi vào tình trạng chỉ tập trung làm chức năng cấp và quản lý giấy phép bản quyền của Nhà nước. Toàn bộ các khâu chủ động từ khai thác nội dung, đàm phán bản quyền, tổ chức dịch thuật đến xây dựng thị trường... đều do các doanh nghiệp và nhà sách tư nhân gánh vác.

TS. Phạm Minh Quân trăn trở về “cú hích” cho ngành xuất bản.
Do phải ưu tiên bài toán chi phí lợi nhuận và vòng quay vốn nhanh, tư nhân buộc phải tập trung vào dòng sách đại chúng, bỏ lơ dòng sách phổ biến tri thức học thuật vốn kén độc giả và quay vòng vốn chậm. Hệ quả là những dịch giả tâm huyết muốn dịch các công trình lớn thường phải tự bơi trong các dự án cá nhân độc lập mà không hề có nguồn lực công hỗ trợ.
Muốn công nghiệp văn hóa cất cánh, phải gỡ "điểm nghẽn" hợp tác công tư
Để giải quyết những trăn trở, các chuyên gia đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ. Trước hết, cần hoàn thiện hệ thống tiêu chí đánh giá toàn diện để làm chỗ dựa cho việc thực thi. TS. Lê Xuân Tùng hiến kế, Nhà nước cần xây dựng các chỉ báo rõ ràng, kết hợp định lượng, định tính. Nhóm tiêu chí về hiệu quả kinh tế sẽ tập trung tối ưu hóa chi phí toàn bộ vòng đời, đánh giá năng lực chủ đầu tư và đa dạng hóa nguồn thu. Nhóm tiêu chí về hiệu quả xã hội sẽ đo lường mức độ bảo tồn nguyên trạng, phát huy bản sắc, chỉ số hài lòng của người dân và giá trị giáo dục di sản liên thế hệ.

TS. Lê Xuân Tùng nhấn mạnh tính cấp thiết xây dựng bộ tiêu chí minh bạch cho đầu tư văn hóa.
Đối với việc thiếu hụt nguồn lực cho ngành xuất bản, TS. Phạm Minh Quân đề xuất, Việt Nam nên thành lập một quỹ hỗ trợ xúc tiến hoạt động xuất bản mang tính chất hai chiều, nhằm đưa các tác phẩm giá trị của nước nhà ra các hội chợ sách uy tín trên thế giới. Đồng thời, cần tận dụng hành lang cơ chế từ các nghị quyết về phát triển công nghệ thông tin và đặt hàng để xây dựng một chương trình xuất bản mang tính quốc gia. Từ đó, cho phép linh hoạt phối hợp với doanh nghiệp tư nhân, nhằm nhanh chóng chuyển ngữ các công trình kinh điển thế giới về Việt Nam.
ThS. Lê An Na cho rằng, nên thiết lập mạng lưới hệ sinh thái chia làm ba lớp để hiện thực hóa các chủ trương vào đời sống. Lớp thứ nhất là kiến tạo mạng lưới điều phối kết hợp công – tư để thu hút chính sách đầu tư từ doanh nghiệp. Lớp thứ hai là phát huy vai trò của các đơn vị trung gian như viện nghiên cứu, đại học để thực hiện nhiệm vụ chuyển hóa các văn bản pháp luật phức tạp thành khung năng lực, bộ chuyên môn hành động thực tế cho cơ sở. Lớp thứ ba là tiến hành xây dựng các mô hình thí điểm cụ thể, áp dụng chỉ số định mức để đo lường, cùng làm và cùng sửa đổi.

Văn Miếu - Quốc Tử Giám hợp tác với TS. Amandine Dabat tổ chức Triển lãm Trời, Non, Nước, giới thiệu các bức tranh của Vua Hàm Nghi. Ảnh: BTC
Nhằm tháo gỡ nút thắt cho kinh doanh, ông Nguyễn Đình Nguyên khẳng định, vai trò của công tác tư vấn đầu tư là cực kỳ quan trọng. Nhà nước cần nâng cao năng lực kinh doanh cho đội ngũ quản lý văn hóa và mở rộng khung tài chính cho mảng tư vấn đầu tư. Các đơn vị tư vấn chuyên nghiệp sẽ là cầu nối giúp “đóng gói” di sản thành các mô hình có khả năng tạo ra nguồn thu kinh tế.
Song song với đó, việc định giá minh bạch tài sản công giúp xây dựng phương án góp vốn hiệu quả cho cả 2 bên công và tư. ThS. Cao Xuân Phong bổ sung, cơ chế tiền kiểm phải đảm bảo thu hút được sự tham gia đông đảo của các đối tượng chịu tác động và cộng đồng thụ hưởng giá trị văn hóa, để tạo sự đồng thuận lâu dài.

PGS-TS. Vũ Thị Phương Hậu đánh giá cao các tham luận được trình bày tại hội thảo.
Tổng kết hội thảo, PGS-TS. Vũ Thị Phương Hậu, Viện trưởng Viện Văn hóa và Phát triển thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh phát biểu, đầu tư theo phương thức PPP trong văn hóa không đơn thuần là giải pháp huy động tài chính, mà sâu xa hơn là phương thức quản trị phát triển hiện đại, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của Nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng và toàn xã hội.
Bài và ảnh: Đoan Túc