Để hiểu vì sao nhiều gia đình ở đô thị ngày nay sống trong trạng thái liên tục dịch chuyển chỗ ở: mua rồi bán, bán rồi thuê, thuê rồi lại chuyển nhà - cần nhìn lại cách mà chủ nghĩa tư bản hiện đại tái tổ chức không gian sống của con người.
Ba dòng vốn và “sản xuất đô thị”
Nhà địa lý kinh tế Mỹ David Harvey đề xuất khung phân tích “ba dòng vốn” (1) để giải thích cách tư bản xử lý khủng hoảng tích lũy. Dòng vốn thứ nhất là sản xuất công nghiệp. Ví dụ: nhà đầu tư bỏ vốn vào một xưởng bánh mì, nhà máy xe đạp hay xưởng may mặc sản xuất hàng hóa, bán ra thị trường thu lợi nhuận. Nhưng khi lợi nhuận sản xuất suy giảm do cạnh tranh mạnh, hàng hóa dư thừa hoặc chi phí lao động tăng cao, dòng vốn bắt đầu tìm nơi sinh lời mới. Harvey cho rằng lúc đó tư bản chuyển sang “dòng vốn thứ hai” là môi trường xây dựng - gồm đầu tư xây đô thị, nhà ở, bất động sản, hạ tầng. Ông gọi quá trình này là “capital switching” - chuyển hướng tư bản.
Dòng vốn thứ ba là chi tiêu xã hội như giáo dục, y tế, khoa học và phúc lợi nhằm tái tạo sức lao động cho các chu kỳ tiếp theo của nền kinh tế.

Mùi thảo dược của những hàng lá ở chợ dân sinh tham gia tạo ký ức nơi chốn cho trẻ.
Sau khủng hoảng công nghiệp những năm 1970 cùng cú sốc dầu mỏ và sự tan rã của hệ thống tiền tệ quốc tế Bretton Woods System (lập 1944), dòng vốn toàn cầu bắt đầu đổ mạnh vào bất động sản. Đô thị từ nơi tổ chức đời sống dần trở thành nơi hấp thụ lượng vốn dư thừa khổng lồ của nền kinh tế toàn cầu. Theo Savills.com năm 2015 tổng giá trị bất động sản toàn cầu đạt khoảng 217 nghìn tỷ USD, tương đương 60% tổng tài sản thế giới, trong đó nhà ở chiếm 75%. Đến năm 2025, quy mô thị trường bất động sản toàn cầu đã tăng lên gần 400 nghìn tỷ USD.
Khi tư bản chuyển sang dòng vốn thứ hai, đô thị không còn được xây dựng chỉ để đáp ứng nhu cầu cư trú, Henri Lefebvre (học giả Pháp 1901 - 1991) gọi đó là quá trình “sản xuất không gian” (production of space), không gian đô thị lúc này được kiến tạo và bán theo logic thị trường thu lợi nhuận chứ không còn được trao cho con người một cách tự nhiên sẵn có như ở các thế kỷ trước.
Từ đây xuất hiện, kích hoạt một lực hút mạnh đối với giới đầu tư thứ phát - là những người mua bất động sản như tài sản tài chính, họ không tạo ra giá trị sử dụng mới nhưng góp phần đẩy giá nhà tăng liên tục.
Hệ quả này có tính cấu trúc vì dẫn tới giá nhà dần tách rời khỏi thu nhập lao động. Tại TP.HCM khoảng cách giá nhà và thu nhập ở mức rất cao, một người lao động bình thường cần khoảng 34 năm thu nhập tích lũy mới đủ mua một căn hộ. Chỉ số giá nhà TP.HCM so với thu nhập hộ gia đình thuộc nhóm các thành phố cao nhất châu Á (Thâm Quyến, Bắc Kinh, Thượng Hải, Seoul, Tokyo - dữ liệu Numbeo 2025).
Nhà ở không còn là thứ người lao động có thể mua chủ yếu bằng tích lũy lao động mà buộc phải dựa vào đòn bẩy tài chính - tức vay ngân hàng dài hạn. Và kể từ thời điểm đó nhà ở bắt đầu vận hành theo logic của thị trường (biến động lên/xuống) chứ không phải chỉ để đáp ứng nhu cầu ở ổn định cho đời sống mỗi gia đình.

Khi đất được bơm vào dòng vốn thứ hai, nó trở thành tiền tệ, đo đếm bằng tiền/mỗi mét vuông. Ảnh minh họa. Ảnh: Trung Dũng
Ba chuyển hóa quan niệm
Sự vận hành của dòng vốn thứ hai không chỉ thay đổi thị trường mà còn thay đổi cách con người nhìn về ba yếu tố nền tảng của đời sống định cư: nhà, đất và đô thị.
Nhà - từ tổ ấm thành tài sản tài chính: Căn nhà vốn là nơi cố kết các thành viên gia đình, gắn ta với cha mẹ ông bà, bàn thờ tổ tiên, hàng xóm quen mặt, hàng cây góc phố, nơi lũ trẻ được dần lớn lên. Nhưng khi nhà trở thành tài sản tài chính, logic đảo ngược, nó chỉ cần được đánh giá: tốt là nhà tăng giá, xấu là nhà không thanh khoản.
Đất - từ tư liệu sản xuất thành dòng vốn: Làng xã Việt Nam trước đô thị hóa, đất là tư liệu sản xuất, con người làm lụng trên đất qua từng mùa vụ, đất được chia theo hương hỏa, đất có “thổ địa” mang tính thiêng. Nhưng khi đất được bơm vào dòng vốn thứ hai, nó trở thành tiền tệ, đo đếm bằng tiền/mỗi mét vuông. Đất bị tách rời hoàn toàn khỏi mọi mối quan hệ xã hội, văn hóa và lịch sử gắn với nó.
Đô thị - từ không gian xã hội thành nơi hút vốn: Không gian thành phố, theo tinh thần của các nhà nghiên cứu Lefebvre hay Jane Jacobs (nhà báo Mỹ 1919 - 2006) là sản phẩm tích lũy của đời sống xã hội - nơi các tầng lớp, nghề nghiệp, văn hóa, ký ức chồng xếp qua nhiều thế hệ tạo nên sự phong phú của xã hội đô thị. Nhưng khi đô thị trở thành nơi hút vốn đầu tư, các khu “đất vàng” trở thành đối tượng nhắm tới của các tập đoàn “sản xuất không gian đô thị”. Nhiều khu đô thị mới mọc lên hoành tráng không chỉ để đáp ứng nhu cầu cư trú mà được tạo ra như một loại tài sản có khả năng tăng giá và chuyển nhượng trên thị trường. Đó là sự khác biệt cơ bản về triết lý đô thị.

Khi đô thị trở thành nơi hút vốn đầu tư, các khu “đất vàng” trở thành đối tượng nhắm tới của các tập đoàn “sản xuất không gian đô thị”. Ảnh: Trung Dũng
Du mục đô thị: mua - bán - dịch chuyển
Từ ba cuộc chuyển hóa đó, một kiểu sống mới hình thành “gia đình du mục đô thị” tại các đô thị trên thế giới với hai dạng du mục cùng tồn tại:
Du mục chủ động: Các gia đình có tài sản liên tục mua - bán - đổi nhà theo chu kỳ giá. Một gia đình trung lưu tại TP.HCM có thể mua căn hộ ở quận 7 (cũ) khi giá còn thấp, vài năm sau bán khi hạ tầng metro hình thành, rồi chuyển sang khu vực khác đang tăng giá mạnh hơn. Mỗi lần dịch chuyển có thể đem lại lợi nhuận tài chính nhưng cũng kéo theo việc con cái đổi trường, thay bạn bè và mất môi trường quen thuộc.
Du mục cưỡng bức: Người dân buộc phải rời nơi ở vì giá thuê tăng quá khả năng chi trả, vì buộc tái định cư trong các cuộc “tái thiết đô thị” hoặc vì tiền đền bù không đủ để mua lại nhà ở cùng khu vực.
Hai dạng du mục này thường tồn tại đồng thời trong cùng một đô thị. Du mục chủ động của tầng lớp có tài sản đôi khi lại tạo áp lực giá đối với nhóm cư dân yếu thế hơn. Hiện tượng này đang diễn ra tại nhiều quốc gia với những tên gọi khác nhau nhưng cùng chung bản chất: nhà ở ngày càng vận hành như tài sản tài chính.

Các cuộc tái thiết đô thị buộc nhiều gia đình rời bỏ nơi cư trú lâu đời của họ.
Hàn Quốc: Hệ thống thuê nhà jeonse cho phép người thuê đặt cọc một khoản rất lớn (50 - 80% giá trị căn hộ) thay vì trả tiền thuê hàng tháng. Nhiều chủ nhà dùng chính tiền đặt cọc đó mua thêm bất động sản (2).
Trung Quốc: Tại các thành phố lớn giá nhà tăng khoảng 10% mỗi năm suốt hơn hai thập niên từ năm 2000 khiến bất động sản trở thành kênh tích lũy tài sản của tầng lớp trung lưu. Truyền thông gọi người cả đời lao động dành hơn 70% thu nhập khả dụng để trả nợ thế chấp là “nô lệ nhà ở” (3). Đến 2016 Chủ tịch Tập Cận Bình nêu khẩu hiệu: “Nhà là để ở, không phải để đầu cơ” cho thấy quan niệm của xã hội đã dịch chuyển rất xa khỏi chức năng gốc của nhà ở.
Úc: Có 2,26 triệu nhà đầu tư bất động sản, du mục đô thị chủ động không chỉ là hành vi cá nhân do được thiết kế vào hệ thống thuế “negative gearing”, cho phép nhà đầu tư dùng khoản lỗ từ cho thuê nhà để giảm thuế thu nhập cá nhân. Khoảng 70% nhà đầu tư bất động sản tại Úc thuộc tầng lớp trung lưu. Bất động sản dần trở thành công cụ tích lũy thay cho hệ thống hưu trí truyền thống (4).
Anh: Thuật ngữ Generation Rent (thế hệ thuê nhà) xuất hiện đầu thập niên 2010 để chỉ lớp người sinh khoảng thập niên 1980 - 1990 phải thuê nhà dài hạn thay vì sở hữu nhà như thế hệ cha mẹ họ. Xu hướng này diễn ra tương tự tại New Zealand, Bắc Mỹ và Tây Ban Nha (5).
Báo cáo Liên Hợp Quốc về quyền nhà ở xác nhận có khoảng 1,6 tỷ người (1/5 nhân loại) “thiếu nhà ở đầy đủ” và con số này có thể tăng lên 3 tỷ vào năm 2030 (6).

Ký ức của trẻ sẽ tự động ghi nhớ những lần nắm tay cha đi trên con đường này.
Những đứa trẻ không có ký ức nơi chốn
Harvey gọi quá trình tư bản tích lũy lợi nhuận không bằng sản xuất hàng hóa nhưng định hình đô thị bằng chiếm hữu đất đai là “tích lũy bằng tước đoạt”. Do nó tạo nên cấu trúc thị trường buộc con người phải từ bỏ các quan hệ phi thị trường (quan hệ cộng đồng, ký ức nơi chốn) để tham gia vòng tuần hoàn bất động sản. Sau mỗi cuộc chuyển nhà kéo theo một chuỗi đứt gãy xã hội, quan hệ hàng xóm không kịp hình thành, cộng đồng cư dân không có thời gian gắn bó, con người tồn tại trên giấy tờ hành chính nhưng thiếu gắn kết thực sự.
Trong tất cả những tổn thất mà du mục đô thị gây ra, tổn thất nặng nề và ít được nói đến nhất là những gì xảy ra với trẻ nhỏ. Trẻ em hình thành nhân cách không chỉ bởi giáo dục gia đình, nhà trường - mà còn bằng ký ức nơi chốn: cái cây trước cổng, tiếng rao của bà bán xôi mỗi sáng, tên bạn thân từ hồi lớp một. Nhà địa lý, nhà văn Yi-Fu Tuan (Mỹ gốc Hoa) gọi tình yêu với không gian cụ thể nơi mình sống là một nhu cầu tâm lý nền tảng, bao gồm cảm giác thuộc về, bản sắc nơi chốn và tình bạn gắn với không gian cụ thể - những điều cấu thành tính cách trẻ.
Các nghiên cứu quốc tế cho thấy việc chuyển chỗ ở thường xuyên có liên hệ với lo âu, trầm cảm, rối loạn gắn bó và suy giảm khả năng thích nghi xã hội. Một khảo sát trên gần 40.000 sinh viên đại học tại Trung Quốc (7) cho biết các rối loạn tâm lý tăng theo số lần chuyển chỗ ở trước tuổi 15. Nghiên cứu trên 1,4 triệu thanh niên Thụy Điển cũng cho kết quả tương tự (8).
Một cô giáo tiểu học ở TP.HCM kể với một họa sĩ trong giờ vẽ “ngôi nhà của em”, hầu hết học sinh đều vẽ nhà có sân, cây cối, bạn hàng xóm. Riêng một bé gái vừa chuyển nhà nhiều lần chỉ vẽ một khối chung cư với những ô cửa sổ giống hệt nhau. Không cây, không sân, không có người đứng trước cửa.
Nhìn chung các nhà nghiên cứu nhân học đô thị xác nhận di chuyển chỗ ở là yếu tố chủ yếu của sự bất ổn môi trường sống bởi nơi cư trú ổn định quyết định gần như toàn bộ môi trường xung quanh đứa trẻ, quan hệ gia đình, khu phố, bạn bè, trường học. Những cuộc di chuyển sẽ phá vỡ toàn bộ mạng lưới xã hội đang hình thành bên trong chúng.

Nhiều khu vực bãi sông hiện đã hình thành hoạt động dân sinh và cư trú lâu năm, đặt ra bài toán cân bằng giữa nhu cầu phát triển và yêu cầu bảo đảm thoát lũ. Ảnh: Quang Minh (Arttimes)
Gia đình du mục sẽ đi về đâu?
Du mục đô thị không đơn giản là lựa chọn cá nhân mà là kết quả của một cấu trúc kinh tế, trong đó nhà ở bị tài chính hóa và đất đai trở thành công cụ tích lũy vốn.
Tổn thất đầu tiên là vốn xã hội - quan hệ cộng đồng cần nhiều năm để hình thành, nhưng thị trường bất động sản liên tục xáo trộn dân cư đô thị. Thứ hai là tính liên tục văn hóa - phố nghề mất dần không chỉ vì thị trường thay đổi mà còn vì những gia đình làm nghề không còn sống ở đó nữa. Thứ ba là sức khỏe tâm thần đô thị - thành phố không chỉ bị tổn thương ở hạ tầng vật chất mà còn ở cấu trúc tâm lý tập thể. Thứ tư là tài nguyên và sinh thái đô thị - vận hành theo chu kỳ đầu cơ, nhiều công trình bị phá trước khi hết vòng đời sử dụng để xây mới có giá trị thương mại cao hơn, gây tiêu thụ vật liệu, năng lượng và phát thải nhiều hơn ở quy mô cực lớn.
Về mặt chính sách, đang diễn ra hai trường phái tranh luận trong học thuật quốc tế. Một bên tiêu biểu là hai nhà đô thị học người Mỹ David Madden và Peter Marcuse (9) lập luận tài chính hóa nhà ở chỉ giải quyết được bằng phi thương mại hóa (phải tạo ra một khu vực nhà ở không chạy theo lợi nhuận: nhà ở xã hội, nhà cho thuê công cộng, kiểm soát giá thuê). Bên kia, trường phái kinh tế đô thị tân cổ điển cho rằng giải pháp là tăng cung, nới lỏng quy hoạch (không cần chống lại thị trường, mà cần để thị trường xây thêm thật nhiều nhà).
Tại Việt Nam, tranh luận này mới chỉ bắt đầu trong khi thị trường vẫn tiếp tục vận hành theo logic của dòng vốn thứ hai. Điểm khác biệt của Việt Nam không nằm ở bản chất vấn đề mà ở tốc độ diễn ra rất nhanh. Những gì nhiều nước trải qua trong vài thập niên thì các đô thị Việt Nam đang trải qua chỉ trong hơn mười năm với nền thể chế chưa kịp chuẩn bị.
Du mục đô thị vì thế không phải một lối sống hiện đại đáng ngưỡng mộ. Nó là biểu hiện của một cấu trúc đô thị do các nhà tư bản dẫn dắt đang đặt giá trị tài sản lên trước nhu cầu ổn định của đời sống con người. Và có lẽ dấu hiệu rõ nhất của cấu trúc ấy là khi một đứa trẻ học cách không còn muốn gắn bó với nơi nào nữa vì biết rằng sớm muộn mình cũng sẽ phải rời đi!
Bài và ảnh: Trần Trung Chính
______________
(1) The Limits to Capital (1982) và The Urbanization of Capital (1985)
(2) Seoulz (2026). Korea Housing Crisis 2026: Inside the Jeonse Collapse That's Reshaping a Nation
(3) South China Morning Post (2013). "Beijing creates a generation of housing slaves"
(4) HouseSEEKER (2025). Negative Gearing in Australia: A Property Investor's 2025 Guide
(5) Hoolachan, J., McKee, K., Moore, T., & Soaita, A.M. (2017). "'Generation Rent' and the ability to 'settle down'" Journal of Youth Studies, 20(1), 63-78
(6) Migration Policy Institute (2024). "Global Affordable Housing Shortages Can Harm Migrant Reception and Integration"
(7) Markanday, A. et al. (2021). "Lasting effects of residential mobility during childhood on psychopathology among Chinese University students". BMC Psychiatry
(8) Jongsma, H.E. et al. (2018). "Association of Residential Mobility Over the Life Course With Nonaffective Psychosis in Sweden
(9) In Defense of Housing (2016).