Đến và ở lại Việt Nam:

Nicolas Cornet và 40 năm gom nhặt ký ức Việt

 10:57 | Thứ sáu, 17/04/2026  0
Đến Việt Nam từ những năm cuối thập niên 1980, Nicolas Cornet chọn gắn bó với mảnh đất này không chỉ như một lữ khách tìm kiếm sự mới lạ mà còn như một người con tìm về quê hương thứ hai. Với ống kính đầy sự thấu cảm, ông “gom nhặt” từng góc phố rêu phong, những phong cảnh yên bình, nụ cười lao động bình dị, và cả những không gian đô thị nay chỉ còn trong dĩ vãng.

Cuộc trò chuyện với Người Đô Thị sẽ giới thiệu những lát cắt trong hành trình lưu giữ ký ức Việt của người đàn ông Pháp đã dành cả sự nghiệp để hiểu và yêu Việt Nam như một người bản địa.

Công việc, cuộc sống và danh tiếng của ông gắn bó sâu sắc với Việt Nam trong gần bốn thập niên. Ông có thể chia sẻ ấn tượng về lần đầu tiên đến Việt Nam?

Một trong những ký ức sớm nhất của tôi liên quan đến việc đi máy bay. Vào cuối những năm 1980, chuyến bay Paris - Sài Gòn dừng ở Bangkok, hầu hết hành khách đều xuống máy bay. Thường chỉ còn lại hai hoặc ba người trên chiếc máy bay khổng lồ đó bay tiếp đến Sài Gòn. Lệnh cấm vận của Mỹ vẫn còn hiệu lực. Hầu hết những người phương Tây đến Việt Nam đều từ các nước Đông Âu. Tôi không luyến tiếc những năm tháng đó bởi cuộc sống của người Việt Nam khi ấy vô cùng khó khăn. Dù đã 12 năm trôi qua sau thống nhất nhưng nhịp sống thường nhật tại Sài Gòn vẫn mang bầu không khí hậu chiến.

Trên những con phố Sài Gòn, mọi người đều khép rèm và đóng chặt cửa ngay khi màn đêm buông xuống. Lệnh giới nghiêm còn hiệu lực. Ngay giữa đường Đồng Khởi, nhiều người sở hữu xe hơi phải thuê người ngủ trên nóc xe để canh chừng trộm cắp. Cả Sài Gòn lúc đó chỉ có vỏn vẹn năm hay sáu nhà hàng. 

Nicolas Cornet tại Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước rừng Văn Long. Ảnh: Nguyễn Văn Trường


Người nước ngoài không được phép trò chuyện với người Việt Nam. Nếu trò chuyện, người Việt thường bị triệu tập đến đồn công an địa phương để tường trình. Chúng tôi không được phép vào nhà dân, không được dùng bữa hay ngủ lại. Ngay cả việc đi từ tỉnh này sang tỉnh khác cũng phải xin giấy phép. Tình trạng cắt điện, cúp nước xảy ra thường xuyên, ngay cả ở những khách sạn lớn. Để gọi điện về châu Âu, chi phí tốn hơn 10 USD mỗi phút và phải đặt trước tại bưu điện. 

Những ấn tượng đầu tiên trong tôi khá lẫn lộn. Cảnh sắc dọc Quốc lộ 1 thực sự tráng lệ nhưng đường sá vẫn trong quá trình xây dựng. Tôi luôn thấy những chuyến phà có gì đó lãng mạn nhưng thực tế thì thời gian đi phà tưởng như vô tận. Các ngôi làng nằm san sát nhau, mùa màng trải dài dọc theo suốt con đường. Dần dà, ngày càng có nhiều nhà cửa mọc lên ven lộ vì mục đích thương mại, đến nỗi giờ đây chẳng còn mấy nơi có thể đứng ngắm nhìn phong cảnh. Những trang trại nuôi tôm cá cũng đã thế chỗ các cánh đồng lúa. 

Mặt khác, con đường này cũng hằn sâu những dấu tích của chiến tranh. Ở hai đầu mỗi cây cầu, vẫn còn vô số hố sụt do bom Mỹ để lại. Có một ngày, khi chúng tôi đi thuyền trên một con kênh ở Cà Mau, những dân quân gác làng đã nổ súng AK về phía chúng tôi. Sau đó họ xin lỗi, giải thích rằng họ đã “không thấy người Tây nào kể từ sau chiến tranh nên lo ngại...”. Để chi trả cho chuyến đi bằng xe hơi từ Sài Gòn ra Hà Nội, chúng tôi phải mang theo cả một valy chứa đầy tiền đồng Việt Nam. Phần lớn người dân khi ấy đều thiếu ăn, và Việt Nam vẫn chưa sản xuất đủ gạo.

Với chính sách Đổi mới, tình hình đã thay đổi nhanh chóng và cuộc sống dần trở nên bớt khó khăn hơn đối với nhiều người dân Việt Nam. Hệ thống hành chính được tinh giản, các công ty Việt Nam phát triển thần tốc và các doanh nghiệp nước ngoài cũng bắt đầu đổ vốn đầu tư mạnh mẽ.

Những kỷ niệm nào sâu sắc nhất với ông và điều gì khiến ông thấy hào hứng mỗi khi quay trở lại?

Một trong những điều làm tôi kinh ngạc nhất chính là khả năng nhạy bén trong kinh doanh của người Việt - cái cách họ gây dựng những hộ kinh doanh nhỏ, phát triển các công ty và xoay xở bằng mọi cách để tìm kiếm nguồn lực cho cuộc sống hàng ngày. Người dân miền Nam vẫn giữ được sự nhanh nhạy nhất định trong thương mại và tính chủ động. Đối với người dân miền Bắc, quá trình này mất nhiều thời gian hơn bởi nền kinh tế tập thể phần nào đã khiến người ta quên đi cách tự thân vận động. Cả một thế hệ đã trôi qua mà không có cơ hội được làm kinh doanh.

Mối lương duyên của tôi với Việt Nam rất khác biệt bởi tôi đã bắt đầu bằng việc học ngôn ngữ, đọc các tác phẩm văn học được dịch sang tiếng Pháp, và gặp gỡ các nghệ sĩ, đạo diễn, nhà văn, nhà nghiên cứu, nhà sử học… Tôi dành nhiều thời gian bên cạnh các cán bộ ngoại giao Việt Nam. Vài người trong số họ thành bạn thân, giúp đỡ tôi tìm hiểu đất nước này rất nhiều, từ văn hóa, phong tục, các quy tắc ứng xử cho đến học tiếng Việt. Họ cũng giới thiệu cho tôi những khía cạnh văn hóa mà họ yêu thích, từ văn chương đến thi ca.

Phỏng vấn Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại nhà riêng với Jean Claude Pomonti, phóng viên khu vực Đông Nam Á của báo Le Monde năm 2004. Ảnh: Nicolas Cornet


Công việc của một phóng viên và nhiếp ảnh cho phép tôi được gặp gỡ các tác giả, vài người trong số đó đã để lại ấn tượng cực kỳ mạnh mẽ. Tôi vẫn nhớ những cuộc gặp gỡ và phỏng vấn thực hiện cùng Jean-Claude Pomonti, phóng viên báo Le Monde với Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại nhà riêng ở Hà Nội, với ông Phạm Xuân Ẩn tại nhà riêng ở Sài Gòn.

Một trong những cuộc phỏng vấn đầu tiên của tôi là với tướng Trần Văn Trà, cùng nhiều người khác ít nổi tiếng hơn. Có một ngày, tôi phỏng vấn một cựu nữ chiến sĩ tại Sài Gòn. Bà kể cho tôi nghe về những đòn tra tấn mà bà phải chịu đựng dưới sự chứng kiến của các sĩ quan Pháp. Điều này cũng làm thay đổi mối liên hệ giữa tôi với lịch sử và với chính quê hương mình.

Ông đã xuất bản nhiều sách về Việt Nam, thông điệp chính là gì? Ông có dự định ra mắt tựa sách mới nào trong tương lai gần không?

Trong những cuốn sách đầu tay, ý tưởng của tôi là giới thiệu Việt Nam với người phương Tây, cung cấp cho họ những chìa khóa để thấu hiểu nơi này, khơi gợi trong họ mong muốn khám phá đất nước với tâm thế sẵn sàng gặp gỡ con người và văn hóa Việt chứ không đơn thuần là bộ sưu tập những phong cảnh đẹp hay cảnh sinh hoạt đời thường. Hầu hết các tác phẩm của tôi đều xoay quanh yếu tố con người.

Với tư cách là tác giả độc lập, tôi đã xuất bản ba cuốn sách ảnh du hành về Việt Nam, thêm một cuốn về Hà Nội và một cuốn về các ngôi chùa Việt Nam. Với vai trò biên tập viên, gần đây tôi đã đồng xuất bản tác phẩm Hà Nội ơi vào năm 2025 và một cuốn sách về bảo tồn loài linh trưởng. Tôi cũng xuất bản một cuốn sách kể về những hành trình tại Campuchia. Trong năm nay, tôi sẽ tái bản cuốn Vietnam Pagodes (chùa Việt Nam) bằng tiếng Việt.

Nicolas Cornet tại chùa Diệu Đế (Huế, 2017), chuẩn bị cho cuốn sách ảnh về các ngôi chùa Việt Nam (sắp tái bản). Ảnh: Quốc Anh (cựu học viên tại một trong những khóa học nhiếp ảnh của Nicolas Cornet)


Ông đã tham gia nhiều chương trình và dự án khác tại Việt Nam suốt mấy chục năm qua. Dự án nào khiến ông say mê nhất, giúp ông gắn kết bền chặt nhất với đất nước và con người nơi đây?

Năm ngoái tôi đã làm việc dọc theo nhiều dòng sông trong khuôn khổ một chương trình do Bộ châu Âu và Ngoại giao Pháp điều hành. Mục tiêu là mang lại một cái nhìn đương đại về các con sông và những người dân sống dọc theo đó, chủ yếu sông Sài Gòn và sông Hồng. Đó là một trải nghiệm đầy mê hoặc.

Lần đầu tiên tôi có thể thoát ly khỏi lối báo chí tư liệu để hướng tới một lối kể chuyện bằng hình ảnh mang tính cá nhân và cởi mở hơn, để tầm nhìn của mình được tự do bay bổng thay vì chỉ tạo ra một danh mục kiểm kê mang tính tư liệu. Tôi hy vọng sẽ tiếp tục công việc này năm nay, đi dọc dòng sông Hương. Thật là một cơ hội phi thường khi được đi khắp Việt Nam, không chỉ ở các trung tâm đô thị lớn mà còn tiến sâu vào các tỉnh lẻ, miền quê. Rất ít người Việt có được cơ hội đó.

Việc trao đổi tại các buổi học tập, chia sẻ ngắn về sáng tác sách và nhiếp ảnh cũng là những dự án thực sự thú vị. Giảng dạy những người trẻ cho phép tôi giữ góc nhìn của mình luôn tươi mới. Giảng dạy cũng đồng nghĩa với trao đổi các ý tưởng.


Cảnh giao thông buổi sáng trên cầu Long Biên (Hà Nội) vào đầu những năm 1990. Ảnh: Nicolas Cornet


Ông đang sở hữu bộ sưu tập khổng lồ những hình ảnh đô thị Việt Nam - rất nhiều không còn tồn tại. Bộ ảnh này có thể là một minh chứng vô giá cho ký ức tập thể của Việt Nam, điều thiết yếu để thấu hiểu cội nguồn đô thị của thế hệ trẻ. Ông định làm gì với kho báu này? 

Vâng, đúng vậy, bộ sưu tập của tôi bao gồm hàng chục nghìn bức ảnh. Tôi đã bắt đầu biên soạn và thêm chú thích, nhưng việc phân loại ảnh mất rất nhiều thời gian. Tôi dự định ủy thác cho một hoặc nhiều thư viện ảnh của các trường đại học quản lý và công bố những hình ảnh này trực tuyến, sao cho các nhà nghiên cứu Việt Nam và phương Tây có thể truy cập chúng miễn phí.

Ngoài đời sống đô thị, tôi cũng rất quan tâm đến đời sống nông thôn và cuộc sống nơi rừng sâu. Về di sản quốc gia, bên cạnh những di sản hữu thể như chùa chiền, đình làng, tôi không chắc liệu người Việt có nhận ra rằng họ còn có những di sản khác, chẳng hạn như sự giàu có của những cánh rừng và tầm quan trọng của việc bảo vệ chúng. Có những loài sinh vật chỉ có thể tìm thấy ở Việt Nam, đó thực sự là một kho báu. Việt Nam có thể chăm sóc những cánh rừng tốt hơn bằng cách phục hồi và bảo vệ chúng.

Khi sống xa nền văn hóa gốc, những người trẻ luôn khao khát tìm hiểu về quê cha đất tổ. Việt Nam và nền văn hóa ấy không dừng lại ở những đường biên giới. Nó luôn sống động thông qua tất cả những ai giống như tôi, những người đi khắp nơi để kể về đất nước này và làm cho nó hồi sinh qua những cuộc gặp gỡ. 

Lời khuyên duy nhất mà tôi có thể đưa ra là hãy chụp ảnh, thật nhiều ảnh. Hãy chụp các địa điểm và con người, ghi lại những vấn đề đang tồn tại, tạo ra những câu chuyện bằng hình ảnh, theo sát các hoạt động ở cả thành thị lẫn nông thôn, lưu lại những tư liệu về quy hoạch đô thị, kiến trúc và các vấn đề xã hội. Để ghi lại tư liệu về đời sống của một quốc gia, chúng ta cần phải chụp rất nhiều và phải có khả năng lan tỏa cũng như lưu trữ chúng.

Chụp hình lại nhịp sống của quốc gia không phải là một nghĩa vụ hay trách nhiệm. Với tôi, trên hết đó là một cơ hội. Cơ hội để cho thấy những gì chúng ta yêu mến, những gì thú vị và cả những vấn đề còn tồn đọng. Đó cũng là cơ hội để chụp ảnh theo phong cách riêng và phát triển kỹ năng nhiếp ảnh của mỗi người. Tôi nhận thấy rằng chụp ảnh cũng giống như nói một ngôn ngữ vậy. Bạn càng thực hành nhiều, đôi mắt bạn càng trở nên sáng tạo và tinh tường hơn, những bức ảnh của bạn sẽ càng chất lượng hơn.

Đường đi Thủ Dầu Một (Bình Dương), một buổi chiều cuối thập niên 1990. Ảnh: Nicolas Cornet


Ở tuổi lục tuần, ông có sợi dây kết nối và thấu hiểu về đất nước này sâu sắc bền chặt hơn cả nhiều người bản địa. Điều gì đã thúc đẩy và truyền cảm hứng để ông tìm hiểu sâu sắc về Việt Nam trong gần 40 năm qua?

Công việc đưa tôi đi khắp mọi miền Việt Nam. Ít người Việt nào có cơ hội đi dọc đất nước một cách thường xuyên như vậy. Mỗi dự án lại cho phép tôi ghé thăm các thành phố và những vùng nông thôn.

Vào năm 2026 tôi dự định làm việc tại Quy Nhơn, ở đầm Thị Nại. Năm trước đó, theo chân các hoạt động của Cơ quan Phát triển Pháp (AFD), tôi đã lưu lại Vĩnh Long, Long Xuyên, Cần Thơ, Bình Dương, Bà Rịa, Ninh Bình, Hòa Bình và Điện Biên. Mỗi năm, những dự án mới lại cho phép tôi quay lại những nơi chốn thân quen để chứng kiến chúng đang thay đổi như thế nào.

Về mặt trí tuệ, đào sâu vào văn hóa của Việt Nam thực sự rất mê hoặc. Mỗi dự án là một cơ hội để tiếp thu kiến thức mới. Trong số các dự án tương lai, tôi đang chuẩn bị một cuốn sách về mối quan hệ giữa văn hóa và ẩm thực Việt Nam. Điều này cho phép tôi xem xét lại văn hóa, trò chuyện với mọi người để thu thập những lời chứng thực và tìm kiếm hình ảnh minh họa. Ý tưởng sau đó là truyền tải những kiến thức này thông qua sách và có thể là cả phim ảnh nữa.

Việc có con cái cũng đóng một vai trò quan trọng. Dù chúng là những đứa trẻ mang hai dòng máu, như các con tôi, hay là con nuôi, Việt kiều, thì mọi thứ đều thúc đẩy tôi cố gắng tìm hiểu thêm về các chi tiết trong văn hóa để chia sẻ lại với chúng. Khi sống xa nền văn hóa gốc, những người trẻ luôn khao khát tìm hiểu về quê cha đất tổ. Việt Nam và nền văn hóa ấy không dừng lại ở những đường biên giới. Nó luôn sống động thông qua tất cả những ai giống như tôi, những người đi khắp nơi để kể về đất nước này và làm cho nó hồi sinh qua những cuộc gặp gỡ. 

Kim Dung thực hiện 

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm
Cùng chuyên mục
Xem nhiều nhất

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.