TỌA ĐÀM MÙA XUÂN 2026:

Thể chế phát huy tiềm năng sáng tạo của con người

 09:15 | Thứ hai, 02/03/2026  0
Thể chế, nói ngắn gọn, bao gồm tổ chức bộ máy quyền lực của nhà nước cộng với môi trường chính sách và pháp luật. Còn đổi mới sáng tạo là hành vi của con người, có thể là chủ trương của một tập thể hay tổ chức nhưng sự thành công lại phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí, năng lực nội tại trong đời sống tinh thần của mỗi cá nhân.

Vậy, trên một đất nước có hơn 100 triệu người dân, làm sao để nhà nước phát huy được các nguồn lực con người cho phát triển? Không có cách nào khác, đó là việc cần thiết đánh giá thể chế để tìm các điểm “nghẽn”, từ đó khai thông nó, mở đường cho các tiềm năng về sáng tạo, đổi mới trong mỗi con người trỗi dậy và thăng hoa. 

Thể chế vốn sinh ra để kiểm soát con người nhằm bảo đảm cho xã hội vận hành có trật tự theo mục tiêu, ý chí được xác định. Nhưng xét về tác động của thể chế, có thể phân ra 3 loại và cấp độ khác nhau: kiểm soát với các biện pháp trói buộc con người; kiểm soát theo cách tác động chủ quan có tính khuyến khích, thúc đẩy các hành vi nhất định của con người và kiểm soát bằng mở rộng không gian, quyền tự do để con người tự chủ và tự giác hành động. Cách tiếp cận nào phù hợp cho mục tiêu đổi mới sáng tạo? 

Đương nhiên và theo lẽ tự nhiên, nếu bị trói buộc thì con người không thể sáng tạo. Có cách tiếp cận cho rằng trong thể chế kiểm soát, chỉ cần tạo các chính sách, cơ chế khuyến khích và hỗ trợ vật chất thì sẽ huy động được năng lực đổi mới sáng tạo. Song, thực tế cho thấy các kết quả của sáng tạo đổi mới ấy nếu có được thì lại không bền vững bởi với mỗi cá nhân, một khi động lực sáng tạo đến từ sự thỏa mãn nhu cầu và lợi ích vật chất thì nó sớm hay muộn sẽ tiệm cận giới hạn. Chưa nói tới điều kiện vật chất dồi dào còn tạo ra cái gọi là “hiệu ứng đủ” về tâm lý, không muốn làm việc vất vả nữa, là cái nguy hại mà ông Kim Woo Chung, người sáng lập tập đoàn Daewoo từng cảnh báo các thế hệ thanh niên Hàn Quốc. 

Cho nên cần đi sâu vào câu hỏi gốc ban đầu, đó là cảm hứng của con người đến từ đâu? Theo lý tự nhiên thì đó chính là tự do. Tuy nhiên, tự do không chỉ là cảm giác nội tâm để dẫn đến cảm hứng sáng tạo, nó cần cả các yếu tố khác trong sự tương tác với ngoại cảnh. Theo đó mỗi người ngoài cảm hứng sống cá nhân còn cần có được hạnh phúc của sự cống hiến cho xã hội và cộng đồng, gắn kết với sự yên tâm về sự an toàn của môi trường sống và làm việc, trên hết là niềm tin vững chắc vào những giá trị phát triển và tiến bộ được cam kết bởi thể chế. Có nghĩa rằng khi giải bài toán thể chế thì cái khó là trong khi không thể bỏ chức năng kiểm soát vốn có, cần xác định được ranh giới kiểm soát ở đâu và phương thức kiểm soát ra sao để mỗi cá nhân vừa có không gian tự do cần thiết, vừa có cảm giác hạnh phúc để hành động. 

Tôi đã đọc kỹ Nghị quyết 57 của Trung ương về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; tiếp đó là Luật Khoa học Công nghệ và Đổi mới sáng tạo 2025. Từ góc nhìn nghề luật, tôi quan tâm nhất yêu cầu của Nghị quyết là từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm” và thấy rằng đó chính là căn bệnh của thể chế cần được luật hóa để gỡ bỏ. Tiếc rằng Luật Khoa học Công nghệ và Đổi mới sáng tạo lại chủ yếu chuyển tải các nội dung chính sách, còn phần công cụ và cơ chế pháp lý để triển khai lại giao Chính phủ quy định. Có nghĩa rằng lập pháp vẫn chưa đạt tới sự phân định rõ ràng giữa chính sách và quy phạm, dẫn tới giảm tính khả thi.

Trẻ em tương tác với robot tại triển lãm thành tựu Đất nước: “80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” (1945 - 2025). Ảnh: Nguyễn Đông


Trở lại với các điều kiện cần và có mà thể chế có thể mang lại cho mỗi con người khi đổi mới sáng tạo, có 3 vấn đề mang tính nền tảng cần được triển khai: 

Thứ nhất, thể chế cần có biện pháp bảo đảm để các cơ sở nghiên cứu và trường đại học, vốn luôn là các trung tâm đổi mới sáng tạo hàng đầu, có được hai quyền cơ bản là tự do học thuật và tự trị đại học. Khung chính sách và pháp luật hiện hành đã chú trọng tăng các quyền tự chủ về tài chính, quản trị cho các trường đại học nhưng về bản chất đó không phải là tự trị đại học theo thông lệ thế giới. Các tác dụng của tự trị đại học và tự do học thuật có thể thấy rõ qua tỷ trọng doanh thu của các trường đại học.

Chẳng hạn, đại học ở Mỹ có tỷ trọng doanh thu lớn từ hoạt động nghiên cứu (15 - 20%), tiếp đến là các khoản tài trợ (chiếm tới 45% tại Đại học Harvard) rồi mới là học phí và các khoản dịch vụ khác. Trong khi đó, tại các trường đại học Việt Nam, có tới trên 90%, thậm chí 99% doanh thu là học phí. Tỷ trọng nghiên cứu ở đại học minh chứng giới trẻ khi được trang bị tri thức sẽ có ngay năng lực và cảm hứng sáng tạo, còn phần tài trợ lớn thể hiện sự gắn kết của trường đại học với xã hội và nền kinh tế. 

Thứ hai, như là một điều kiện, nếu khởi nghiệp sáng tạo được bảo đảm và thúc đẩy bởi quyền và lợi ích vật chất thì việc mỗi người dân yên tâm về bảo vệ sở hữu đối với các tài sản tạo ra sẽ đóng vai trò rất quan trọng. Trên thực tế, Hiến pháp và pháp luật hiện hành đã quy định về xác lập quyền sở hữu tư nhân, tuy nhiên xét về thực thi và bảo vệ vẫn tồn tại cả khiếm khuyết và mâu thuẫn, điển hình là các điểm nghẽn căn bản của Luật Đất đai và Luật Quy hoạch.

Theo Luật Đất đai, với quyền sử dụng đất được nhà nước cấp, người dân có quyền xây dựng công trình trên đó. Vấn đề ở chỗ các thương quyền hay quyền tài sản có liên quan vẫn phụ thuộc vào quyết định về mục đích sử dụng đất của nhà nước cùng các yêu cầu chi tiết của quy hoạch. Một khi nhà nước thay đổi quy hoạch, cả đất và tài sản trên đất đều đối mặt nguy cơ giảm giá trị, thậm chí mất mát nếu quyền sử dụng đất bị thu hồi.

Để cải cách thể chế trong khía cạnh này, nên chăng cần tham khảo thực tiễn ở các nước phát triển, áp dụng nguyên lý phổ quát về “quyền với tài sản trên đất đứng trước quyền sử dụng đất”, đồng thời tập trung việc quy hoạch phát triển vào ổn định không gian được xây và không được xây công trình thay vì các yêu cầu quá chi tiết, đậm chất chủ quan, không thiết thực. 

Thứ ba, cần có biện pháp thể chế để mỗi người dân, doanh nghiệp xây dựng và giữ vững niềm tin vào pháp luật, nhất là hệ thống tư pháp. Thời gian qua, trong hoạt động lập pháp cũng như quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong khía cạnh này đã có những thay đổi về chất. Chẳng hạn các luật do Quốc hội ban hành có xu hướng ngắn gọn thay cho quá chi tiết, cụ thể, kiểu “cầm tay chỉ việc”. Quốc hội còn trao Chính phủ quyền lập pháp mở rộng bằng độc lập, chủ động ban hành các văn bản pháp quy - hành chính. Tuy nhiên, mục tiêu cần đạt được phải là tác động của nó lên đời sống xã hội. Xét từ góc độ tâm lý, mỗi cá nhân sẽ lo ngại về các vấn đề thiết thực với họ, đó là các quyền cơ bản của mình được hiến định và luật định có được bảo vệ tốt hơn không? Trong trường hợp các quyền đó bị thu hẹp hay tước bỏ thì giải pháp sẽ là gì?

Theo thông lệ, hệ thống tư pháp ở mỗi quốc gia phải trả lời các câu hỏi này. Cụ thể, bên cạnh các tòa án thường còn có tòa án bảo hiến là cơ quan giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giữa lập pháp và hành pháp, các xung đột trong hệ thống pháp luật trên nền tảng hiến pháp, đặc biệt các khiếu nại của công dân về tình huống các quyền cơ bản hiến định không được bảo đảm. Ở nước ta, cơ chế bảo hiến đã được đề cập trong Hiến pháp 2013 nhưng cho tới nay vẫn chưa được Quốc hội cụ thể hóa bằng một đạo luật riêng. 

Tóm lại, nếu coi các mục tiêu phát triển là vì ấm no, hạnh phúc của con người, hay đặt con người vào trung tâm thì con đường đi tới mục tiêu đó cần xuất phát từ chính con người cùng với các hoàn cảnh, động cơ, lợi ích cụ thể và cả tâm lý của họ. 

Luật sư Nguyễn Tiến Lập

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.