Gần trăm năm trước, ông nội đem theo một bầy em mồ côi cha lẫn mẹ trốn chạy nước dữ sông Tiền. Tuổi trung niên chân trần, ghe lườn và buồm lá dừa nước, hình ảnh bi tráng chứ không hoàn toàn hào sảng như người ta vẫn ngợi ca.
Chèo tay đi hoài đi hoài đơn độc giữa cây bần cây tràm và khỉ voọc chứ làm gì có một đoàn người trống giong cờ mở. Dám rời bỏ quê cha đất tổ để tìm vùng đất mới, đích thị đây là chuyện áo cơm tâm trạng không thể thi vị hoá cho nhẹ đi gánh nặng sinh nhai.
Nhưng ông không bao giờ đay nghiến lý do khiến ông đưa cả bầy em rời bỏ bản quán. Không hằn học không kêu ca, kể cả chuyện nước lên hàng mét vào mùa nước lên. Chỉ có nỗi hoài nhớ thì được lặp đi lặp lại năm này chí năm khác. Thật thiêng liêng trang trọng cái mảnh Cao Lãnh đất của xoài mà ông đã quả quyết rời đi. Nó, khu vườn tổ tiên trong tâm tưởng được gieo xuống mà giờ đây đã thành cành nhánh xum xuê mấy thế hệ ở cuối dòng sông Nước Đục, song song với Xà No.

Lâu lâu Trời lại cho miền Tây một trận nước chum để phù sa ứ hự nuôi vườn bồi liếp, nuôi cây nuôi trái. Ảnh: CTV
Ngày con cháu mang theo hương hồn Ông về lại đất gốc, sông Tiền đang mùa nước bạc nhưng mặt sông vẫn tiềm tàng khả năng gây sự so với sông Hậu ôn hòa. Vườn cổ khô hạn phải dùng máy bơm mới có nước tưới cho xoài đang trổ bông. Mộ tổ trầm mặc rêu phong - những người đi từ Bình Định vô, được liệt vào hàng tiên phong mở cõi thời Ngọc hầu Nguyễn Văn Thoại mộ binh đào kinh Vĩnh Tế. Cao Lãnh có những liếp vườn lực lưỡng, những gốc xoài trăm năm, những cỗ xe lôi thong thả dưới ánh trăng mê hồn, và những mái chùa đáng kính. Quê quán quá thanh bình, hà cớ ông nội phải rời đi?
Chạnh nhớ một lần nước lên ngập hết vườn nhà ở cuối sông Hậu. Nơi đây gần với Rạch Giá, biển thở mạnh là có thể nghe thấy nhưng mương liếp bị ngập lé đé, như có một sức mạnh vô hình dìm chúng xuống. Nhưng là những ngày hội với đám trẻ con. Những viên gạch xếp dài làm thành đường đi từ nhà trên xuống nhà dưới. Bọn trẻ bị quây lại trên bộ ngựa gõ - từ hồi ông nội mang theo trên chiếc ghe lườn. Những đôi guốc nhỏ xíu để lại trên đám gạch, bọn trẻ cúi nhìn những con cá lăng quăng trong nước lụt. Hàng tuần được sống chung với nước, một kỷ niệm nhớ đời.
Đã có thể hình dung cảnh người xưa bị bó chân trong mùa nước nổi. Dạo ấy ông đã sắp gần đất xa trời. Ông ngồi trên bộ ván gõ, ông dắt dẫn đám cháu hồi hương bằng những câu chuyện khắc nghiệt với be bờ, canh nước và rồi bó tay khi vườn xoài chịu đựng nước lên. Ông kể chậm rãi, rầu rĩ nhưng cẩn trọng. Như một cuốn gia phả vừa tìm lại được, ông bắt đầu từ dạo tổ tiên khăn gói đi dài từ Bình Định vô, trong khi người Khmer sở tại giắt cây phảng và chiếc nọc cấy lên mái lá nhà sàn chờ ngày nước xuống thì người Kinh tính chuyện lên liếp lập vườn để điền viên.
Vườn mới thi gan với nước lụt sông Tiền, liếp cao lên cây cối cũng cao lên, chớp mắt mà đã trăm năm đất cổ. Trăm năm có bấy nhiêu đời người thì cũng có bấy nhiêu kinh nghiệm, giờ thì tụi con dòm mức nước lụt để thấy trong đó có gì? Đám cháu nhà ông chỉ thấy nước lợn cợn đục và những con cá nhỏ tung tăng. Ông nhắc nhở: Phù sa mới đáng, phù sa là kho báu, phù sa là ngọn nguồn, con người chỉ có thể đắp đập, đặt bộng, lên liếp, be bờ chớ không tự làm ra được phù sa, vậy nên con người phải tri ân trời đất chớ đừng có hờn trách, càng không được kêu ca, oán thán.
Từ thập niên 80s, với sự thống trị của các ngài duy ý chí, xuất hiện ở miền Tây từ lũ, đê ngăn lũ và mọi người được kêu gọi “hãy sống chung với lũ”. Ở đâu đó tận phía Bắc mới là lũ khi rừng đầu nguồn đang bị tàn sát. Thê thảm những trận lũ quét lũ vùi năm sau tàn khốc hơn năm trước. Chỉ ở miền Tây là đến hẹn nước lại về, như món quà mà ông nội của đám cháu kính cẩn gọi là nước chum: mùa-nước-chum. Nước chum, phải, nước chum nghe thật chập chã, mênh mang, vời vợi. Ông nhắc nhớ: Lâu lâu Trời lại cho một trận nước chum để phù sa ứ hự nuôi vườn bồi liếp, nuôi cây nuôi trái.
Đã bao nhiêu mùa nước lên kể từ khi cô bé ngồi trên bộ ván gõ nghe ông nội nói về Nước chum. Khi ấy cô chưa biết nghĩ, rằng Sẽ có lúc không chỉ đồng bằng Cửu Long trở thành biển nước như thời hồng hoang, rằng lỗi không bởi sông Hậu hay sông Tiền mà bởi những cánh rừng đại ngàn xa xôi không còn trên mặt đất.
Vợ chồng tôi hay nói với nhau “Việt Nam cơ bản đã phá xong rừng”. Nhà văn Nguyễn Quang Thân còn chua thêm: “Quốc gia phụ thuộc vào nước mà họ bỏ Bộ Lâm Nghiệp và bỏ Bộ Thủy Lợi thì con dân phải lóp ngóp thôi. Bỏ để phá cho dễ đây mà”. Anh ấy từng học Thủy Lợi nên biết hộ đê là việc sống còn của Quan và Dân tự ngàn xưa. “Con người đang tự ăn thịt chính mình”. Về Hương Sơn - Hà Tĩnh, anh luôn trò chuyện với họ hàng “Nhà nào cũng nên thủ sẵn thuyền phòng lũ bất thần, gác xép phải cao để mình còn rút lên đó hàng tuần khi lũ dữ và lúc đã mạnh vốn, phải có Nhà chống lũ. Năm nào đến hẹn lũ cũng về thì không thể cứ qua đi là chúng ta ngồi rung đùi với chè xanh và rượu tự nấu được”.
Quê tôi nước chum nhưng trẻ con dốt bơi. Quê chồng tôi thì lũ, lũ thực sự chứ không phải nước nổi nước lên hay nước chum, vậy mà áo phao và thuyền (thuyền cao su thôi) cũng không sẵn. Có lẽ người mình hồn nhiên thật, hồn nhiên bị bất ngờ, hồn nhiên chịu đựng và hồn nhiên đợi chờ phép màu.
Dạ Ngân