Nỗi buồn không phải là điều nên trốn chạy
Ta thường muốn nỗi buồn biến mất thật nhanh. Buồn là phải quên đi, phải bận rộn hơn, phải gặp ai đó, đi đâu đó, làm gì đó để khỏi phải ngồi yên với chính mình. Nhưng có những nỗi buồn không biến mất chỉ vì ta cố lảng tránh. Nó vẫn ở đó, âm thầm, đợi đến lúc mọi thứ lắng xuống để trở về.
Đại đức Thích Đồng Tâm cho rằng cái đáng sợ không phải là nỗi buồn, mà là việc ta hiểu sai và có thái độ chưa đúng khi đối diện với nó. Từ cách nhìn ấy, Không khóc giữa nhân gian được viết như một lời nhắc dịu dàng: không phải nỗi buồn nào cũng cần bị xóa đi. Có những nỗi buồn cần được hiểu, được lắng nghe, rồi từ đó ta học cách đi qua nó bình yên hơn.
Cuộc đời giống như quy luật của thiên nhiên, có ngày nắng thì phải có ngày mưa. Một bông hoa qua cơn gió lớn không phải vì nó cứng cáp hơn bão, mà vì nó biết cúi xuống. Con người cũng vậy. Có những nỗi buồn chỉ bớt dữ dội khi ta ngừng chống lại nó và bắt đầu hiểu nó đến từ đâu. Nỗi buồn, nếu được nhìn cho thấu, có thể khiến ta chậm lại, bớt ảo tưởng về những điều bền chắc, và trưởng thành hơn sau mất mát.
Từ cách nhìn ấy, Đại đức Thích Đồng Tâm viết Không khóc giữa nhân gian. Nếu trong ba tập sách Sát na này là thiên thu, Tịch tịnh, Đủ duyên ta lại tương phùng, nỗi buồn chỉ thỉnh thoảng hiện lên, thì trong cuốn sách này, nó trở thành chủ đề chính: rõ hơn, gần hơn và khó né tránh hơn.
Với 79 bài tản văn ngắn, Không khóc giữa nhân gian giống một cuộc trò chuyện chậm rãi với những người đang mỏi mệt vì áp lực, mất mát và những vết thương trong lòng. Mỗi bài viết giữ lại một khoảnh khắc suy tư của tác giả: có lúc rất buồn, có lúc rất lặng, nhưng sau cùng vẫn hướng người đọc về một cách sống bình thản hơn.

Bìa cuốn sách Không khóc giữa nhân gian.
Xuyên suốt cuốn sách, Thích Đồng Tâm thường dùng hai chữ “người thương” để gọi bạn đọc của mình. Đó không phải là cách gọi thân mật giữa hai người có tình cảm riêng tư, mà là lời thì thầm dành cho bất cứ ai đã từng đi qua đau khổ, đang bị bão tố cuộc đời bủa vây, hay vẫn còn lang thang, mỏi mệt, chưa biết tựa vào đâu giữa dòng đời. Cách gọi ấy khiến giọng văn mềm hơn. Người đọc không có cảm giác đang nghe một bài giảng, mà như đang được ai đó ngồi xuống nói cùng mình.
Tác giả không viết để kéo người đọc chìm sâu hơn vào nỗi buồn, mà để gợi một cách đi qua nó nhẹ hơn: không tự trách, không níu kéo, cũng không xem những vết sẹo trong lòng là điều vô nghĩa.
“Mang trong lòng một nỗi buồn không có gì là sai. Buồn không có nghĩa là yếu đuối, càng không có nghĩa là thất bại. Bạn đang cảm nhận một nỗi buồn nghĩa là bạn đang có đủ bản lĩnh, đủ sự mạnh mẽ và trí tuệ để trải nghiệm nỗi buồn ấy, nghĩa là bạn đang bắt đầu bước đi trên con đường giác ngộ”, tác giả viết.
Buông bỏ nỗi buồn giống như nhổ một chiếc răng lung lay
Không chỉ viết về nỗi buồn, cuốn sách còn trở đi trở lại với hai chữ “buông bỏ”. Có những chuyện ta biết càng giữ càng đau, nhưng vẫn không nỡ đặt xuống.
Giống như một chiếc răng đã lung lay từ lâu, ta biết nó khiến mình đau, nhưng vẫn sợ nhổ bỏ vì nghĩ rằng sẽ còn đau hơn. Chỉ khi đủ can đảm buông xuống, ta mới nhận ra điều mình sợ hãi bấy lâu lại chính là con đường mang đến sự nhẹ nhõm.
Buông bỏ trong Không khóc giữa nhân gian không phải là quay lưng với mọi thứ, cũng không phải là ngừng yêu thương hay mặc kệ cuộc đời. Buông bỏ là nhận ra có những điều đã hết duyên, và mình không thể giữ mãi bằng sự cố chấp. Mỗi lần đặt xuống được một điều, lòng ta lại sáng ra một chút. Mỗi lần dám nhìn thẳng vào nỗi đau, ta bớt bị nó kéo đi một chút.
Tác giả viết: “Đừng cố níu lại những mùa hoa rụng. Cũng đừng trách cơn gió đã cuốn đi những gì tươi đẹp khỏi tay mình. Cuộc đời không lấy gì từ mình hết. Cuộc đời chỉ mang đến cho mình những bài học. Một khi học ra được bài học đó, ta sẽ hiểu rằng mọi sự xảy ra đều đúng và tốt cả”.
Đại đức Thích Đồng Tâm nhiều lần nhắc người đọc quay lại với hiện tại, vì chỉ ở đó ta mới thôi bị quá khứ và những điều chưa tới làm cho kiệt sức. Như mưa đến rồi tạnh, hoa nở rồi tàn. Không có điều gì ở lại chỉ vì ta muốn giữ. Có lẽ điều đáng quý không phải là giữ được mọi thứ, mà là sau những đổi thay, lòng mình vẫn còn một chỗ để trở về.
Điểm tạo nên sức hút của Không khóc giữa nhân gian không chỉ nằm ở nội dung mà còn ở văn phong của tác giả. Những trang viết có nhiều hình ảnh quen thuộc của thiền môn: mây, gió, hoa sen, hạt mưa, buổi sáng mờ sương. Thiên nhiên ở đây không chỉ là bối cảnh mà đã trở thành ngôn ngữ để tác giả diễn đạt những trạng thái nội tâm. Một cơn mưa có thể gợi nỗi buồn. Một chiếc răng lung lay nhắc ta về sự buông bỏ. Một tách trà kéo người đọc trở lại với phút giây hiện tại.
Với lối viết ngắn gọn, các câu văn có độ ngắt nghỉ nhịp nhàng như hơi thở, bạn đọc không cần phải đọc một mạch từ đầu đến cuối, thay vào đó có thể lật mở một cách ngẫu nhiên mỗi sớm mai hoặc những đêm muộn. Đọc một vài trang, nhấp một ngụm trà, rồi để cho những câu chữ thấm sâu vào lòng, bạn sẽ thấy tâm mình lắng lại giữa những bộn bề.
Không khóc giữa nhân gian không làm nỗi buồn biến mất. Nhưng nó nhắc người đọc rằng nỗi buồn không nhất thiết phải là thứ ta ghét bỏ hay xấu hổ. Và biết đâu, chính khi ta thôi chống lại nó, ta mới thấy trong mình vẫn còn một chỗ đủ yên để đứng lại.
Như tác giả đã viết: “Ta sẽ không khóc giữa nhân gian, không phải vì ta né tránh nỗi buồn, mà bởi vì sau nỗi buồn, ta đã học được cách đi qua nó trong bình an. Không dằn vặt, không tiếc nuối, không trách người và cũng không trách chính ta.”
Đại đức Thích Đồng Tâm tốt nghiệp thạc sĩ ngành Địa lý Kinh tế Xã hội, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM và công tác giảng dạy tại khoa Địa lý ba năm trước khi xuất gia tu học.

Đại đức Thích Đồng Tâm.
Đại đức Thích Đồng Tâm đã tốt nghiệp cử nhân Phật học chuyên ngành Anh văn Phật pháp, Học viện Phật giáo Việt Nam, tốt nghiệp thạc sĩ Phật học tại trường MCU Thái Lan, thạc sĩ Phật học tại Đại học Phật giáo quốc tế Sri Lanka - SIBA Campus.
Hiện tại, Đại đức Thích Đồng Tâm đang là giảng viên cơ hữu khoa Pali và Phật học, thuộc Học viện Phật giáo Quốc tế Sri Lanka, nghiên cứu sinh tiến sĩ Phật học tại Sri Lanka. Phó ban Phật giáo Quốc tế, Ban Trị sự Phật giáo Thành phố Cần Thơ, Giáo thọ sư trường Cao đẳng Phật học Thành phố Cần Thơ.
Quỳnh H.