Góc nhìn nghiên cứu văn học liên ngành mới từ lý thuyết địa lý

 09:53 | Thứ bảy, 11/07/2026  0
Nghiên cứu địa lý từng chịu sự chia cắt khi cả khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội và nhân văn đều đẩy lĩnh vực này sang cho nhau. Sự phân mảnh đó là hạn chế lớn của nền khoa học thế giới nửa cuối thế kỷ XX, khi các ngành bị chia nhỏ thành những chuyên ngành biệt lập. Tuy nhiên, những năm gần đây, khoa học xã hội và nhân văn đã chú ý nhiều hơn đến yếu tố địa lý. Tại Việt Nam, xu hướng nghiên cứu liên ngành cũng nhận được sự quan tâm mạnh mẽ trong khoảng 5-7 năm trở lại đây.

Nhận định đó được TS. Dương Xuân Quang, Khoa Ngôn ngữ học, Tiếng Việt và Việt Nam học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) đề cập đến tại tọa đàm Địa lý văn học – Những cách tiếp cận về không gian và nơi chốn. Sự kiện do Viện Văn học (Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam) vừa tổ chức, không chỉ giới thiệu những cách tiếp cận lý thuyết mới mẻ, mà còn công bố các kết quả nghiên cứu qua các chất liệu văn học cụ thể.

Bản đồ hóa hành trình đi sứ của Đại Việt và Triều Tiên

Tại tọa đàm, ThS. Phạm Tuấn Hiệp (Trường Đại học Hà Nội) đã trình bày nghiên cứu ứng dụng phương pháp số hóa tư liệu liên ngành để tái hiện sinh động dòng chảy văn thơ đi sứ xưa. Theo nhà nghiên cứu, những tác phẩm văn thơ bang giao nếu chỉ tiếp cận theo lối phân tích văn bản truyền thống, thì chưa thể lột tả hết được không gian và bối cảnh lịch sử đầy biến động.

ThS. Phạm Tuấn Hiệp thống kê danh sách các sứ thần Đại Việt và Triều Tiên.


Do đó, ThS. Phạm Tuấn Hiệp đã lựa chọn chuyến đi lịch sử năm 1790, thời điểm cả hai phái đoàn Đại Việt và Joseon (Triều Tiên) cùng sang Trung Hoa chúc thọ Hoàng đế Càn Long, để tiến hành thực nghiệm. Nguồn tư liệu được anh khai thác gồm các tập thơ đi sứ của Phan Huy Ích, Vũ Huy Tần, Đoàn Nguyễn Tuấn phía Việt Nam, đối chiếu chặt chẽ với hệ thống nhật ký hải ngoại bằng thơ văn của các sĩ phu Joseon.

Thay vì lối phân tích văn bản truyền thống, nhà nghiên cứu đã tiến hành số hóa toàn bộ dữ liệu hành trình vào tệp Excel, từ thời gian, địa danh cụ thể cho đến tên tác giả và các trích đoạn thơ văn liên quan. Bằng cách xác định tọa độ trên Google Maps và sử dụng tệp dữ liệu KML, lộ trình di chuyển thực tế của hai sứ đoàn đã được tái hiện trực quan trên bản đồ tương tác. Người xem có thể bấm trực tiếp vào từng địa điểm trên bản đồ tương tác, để đọc những bài thơ được sáng tác tại chính nơi đó cách ngày nay hơn hai thế kỷ.

Phương pháp bản đồ hóa này đã mang lại những phát hiện định lượng giàu giá trị lịch sử. ThS. Phạm Tuấn Hiệp phân tích, phái đoàn Đại Việt năm 1790 có quy mô đông kỷ lục với 156 người, nhưng vẫn khiêm tốn hơn đoàn Triều Tiên vốn lên đến gần 500 người và họ được phép kết hợp giao thương.

Về mật độ ghi chép, dù quãng đường của đoàn Việt Nam dài hơn rất nhiều, khoảng hơn 3.500 km so với 1.300 km của Triều Tiên, các điểm chấm tọa độ của Triều Tiên lại dày đặc hơn hẳn. Điều này cho thấy tính chất ghi chép nghiêm ngặt, tỉ mỉ từng ngày của sứ thần Joseon để báo cáo nhà vua, trong khi các sứ thần Việt Nam lại mang cốt cách thư thái, thường chỉ đề thơ tại những danh thắng hoặc khi có cuộc hội ngộ lớn.

Chi tiết trong tranh vẽ các phái đoàn sang triều cống vật phẩm cho Càn Long. Ảnh: Tư liệu


Kích thước các điểm nút biểu thị số lượng tác phẩm văn học: thơ văn nở rộ tại các trạm dừng chân lớn như Quảng Châu, Ngô Châu – nơi các đoàn có thời gian ăn Tết Đoan Ngọ. Ngược lại, khi triều đình nhà Thanh ra lệnh phải có mặt gấp, hai đoàn phải tăng tốc trong đêm, số lượng bài thơ sụt giảm rõ rệt vì đoàn phải chạy đua với thời gian. Nghiên cứu của ThS. Phạm Tuấn Hiệp không chỉ định vị chính xác tư liệu văn hiến xưa, mà còn mở ra một góc nhìn mới đầy trân trọng về những gian truân lẫn khí phách của cha ông trên bước đường vạn dặm.

Tưởng tượng địa lý qua văn học Hồ Biểu Chánh

Tiếp nối mạch tư duy về không gian, ThS. Đinh Lê Minh Thông trình bày phương pháp giải mã không gian và nơi chốn thông qua lý thuyết tưởng tượng địa lý. Đối tượng phân tích là thế giới văn chương của Hồ Biểu Chánh và các tác phẩm phim truyền hình chuyển thể.

Theo nhà nghiên cứu, lý thuyết tưởng tượng địa lý tập trung mạnh mẽ vào khía cạnh thị giác và tầm nhìn, nhằm nghiên cứu cách con người hình thành suy nghĩ, cảm xúc và trải nghiệm. Qua đó, định hình nên bản sắc văn hóa của một vùng đất – nơi tồn tại ở lằn ranh giao thoa giữa thế giới thực và thế giới hư cấu.

Một số tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh. Ảnh: Sách Bá Tân


Lý giải về việc nghiên cứu văn chương Hồ Biểu Chánh, ThS. Đinh Lê Minh Thông cho biết, cố nhà văn được xem là người tổng hợp các biểu tượng sâu sắc nhất về không gian văn hóa, con người và ký ức xã hội Nam bộ đầu thế kỷ XX. Điều thú vị là trong tác phẩm của mình, Hồ Biểu Chánh thường không nêu đích danh các địa điểm cụ thể, mà chỉ tỉ mỉ miêu tả các dấu hiệu kiến trúc, cảnh quan đô thị, nông thôn hay cách bài trí không gian nhà cửa. Từ các cứ liệu văn học mang tính tĩnh này, ngôn ngữ điện ảnh đã thực hiện chức năng hiện thực hóa và lan tỏa hình ảnh, giúp củng cố và làm sống động trí tưởng tượng tập thể của công chúng.

Khai thác sâu hơn, ThS. Đinh Lê Minh Thông đã dẫn hai bộ phim chuyển thể nổi tiếng là Con nhà nghèoTình án (chuyển thể từ tiểu thuyết Cư Kỉnh), nơi các nhà làm phim lựa chọn ngôi nhà cổ của Đốc phủ sứ Nguyễn Văn Hải (còn gọi là Nhà Đốc phủ Hải) tại Gò Công (tỉnh Tiền Giang trước đây, nay là Đồng Tháp) làm phim trường. Đây là một kiến trúc di sản có lịch sử hơn 100 năm tuổi, từng thuộc sở hữu của vợ anh hùng Trương Định trước khi được cải tạo bởi thế hệ thứ ba theo phong cách giao thoa Đông – Tây độc đáo.

Phân cảnh trong bộ phim Tình án. Ảnh: Tư liệu


Phân tích sâu hơn về sự chuyển dịch này, ThS. Đinh Lê Minh Thông chỉ ra, phim truyền hình một mặt tuân thủ, mặt khác đã tái diễn giải lại không gian văn học một cách đầy chủ ý. Phim đã biến cấu trúc ngôi nhà hướng ra sông đặc trưng của miền sông nước Nam bộ thành ngôi nhà mặt phố đô thị kiểu Tây, phân chia ranh giới di chuyển nghiêm ngặt của các tầng lớp xã hội (nô bộc đi lối phía sau, chủ cả ở phía trước).

Đồng thời, biến gian chính ngôi nhà thành trung tâm phán xét của luân lý gia đình. Từ một vật thể kiến trúc tĩnh, mang tính lịch sử, sự kết hợp giữa văn học và điện ảnh đã chuyển hóa nơi đây thành một kiến trúc động, mang tính thời đại. Mở ra phương pháp “khám phá chìm sâu” đầy mới mẻ vào các lớp nghĩa ẩn giấu của không gian địa phương.

Mã hóa Chronotope bằng nhân văn số trong truyện ngắn Hyon Chin-gun

ThS-NCS. Trần Tùng Ngọc, Viện Nghiên cứu Hàn Quốc học Trung ương (Hàn Quốc), mang đến giải pháp cho những không gian, nơi chốn văn học mơ hồ, không có tên gọi cụ thể hoặc không thể đánh dấu trên bản đồ địa lý thông thường. Giải pháp đó ứng dụng phương pháp nhân văn số để xây dựng bản đồ Chronotope (không – thời gian) dựa trên lý thuyết của nhà lý luận văn học Nga M.M. Bakhtin, với đối tượng khảo sát là đô thị thuộc địa Seoul thời Nhật thuộc trong truyện ngắn của nhà văn hiện thực Hyun Jin-geon.

ThS. Trần Tùng Ngọc tiếp cận đô thị Seoul thời Nhật thuộc trong truyện ngắn Hyun Jin-geon.


Nghiên cứu đã mã hóa truyện ngắn của Hyun Jin-geon bằng ngôn ngữ XML (tức Extensible Markup Language, là ngôn ngữ sử dụng các thẻ mã hóa để cấu trúc dữ liệu, giúp máy tính dễ dàng đọc và xử lý). Theo đó, nhà nghiên cứu thiết lập bộ hướng dẫn để máy tính đọc văn bản. Tiếp theo, các chi tiết về bối cảnh, nhân vật, lời thoại được gắn thẻ để chia nhỏ truyện thành các phân cảnh như phim điện ảnh. Cuối cùng, hệ thống chấm điểm logic sẽ tính toán tầm quan trọng của yếu tố không - thời gian trong mỗi cảnh.

Kết quả từ 19 truyện ngắn đô thị (gồm 140 phân cảnh và 2.134 đoạn văn) đã mang lại góc nhìn “đọc xa” toàn diện, giúp bao quát tác phẩm thay vì đọc thủ công.

Tác phẩm Một ngày may mắn của Hyun Jin-geon được ThS. Trần Tùng Ngọc chuyển ngữ tiếng Việt. Ảnh: Trần Tùng Ngọc


ThS. Trần Tùng Ngọc chia sẻ, thống kê định lượng đã phủ nhận trực giác thông thường: 3 không gian xuất hiện áp đảo trong văn học Hyun Jin-geon là nội tại, phòng khách và ngưỡng cửa, chứ không phải lao động tầng đáy. Bản đồ nhiệt (sử dụng các sắc độ màu sắc khác nhau, thường từ tông lạnh đến tông nóng, để thể hiện mật độ, tần suất hoặc cường độ của dữ liệu trên một không gian cụ thể) chỉ ra phụ nữ bị giam hãm trong ký ức. Còn lao động tầng đáy gắn với con đường mưa tuyết.

Nhà nghiên cứu đúc kết, bản đồ tương tác chứng minh đô thị thuộc địa không trung tính mà phân phối số phận nhân vật, đa số kết thúc bằng việc xoáy sâu vào căn phòng nội tâm của người bị trị.

TS. Nguyễn Huy Bỉnh, Phó Viện trưởng phụ trách Viện Văn học, đánh giá các diễn giả không ở cùng một không gian địa lý, nhưng họ đã kết nối với nhau bằng không gian khoa học, cùng chung một ý tưởng và quan điểm.


Phát biểu tổng kết, TS. Nguyễn Huy Bỉnh, Phó Viện trưởng phụ trách Viện Văn học, khẳng định, địa lý văn học tuy không phải là hướng nghiên cứu hoàn toàn mới nhưng là một hướng tiếp cận rất tốt, mở ra nhiều triển vọng để khám phá sâu hơn cả văn học viết lẫn văn học dân gian. Bên cạnh đó, việc ứng dụng các tác phẩm vào hệ sinh thái của công nghiệp văn hóa, các hình thức nghệ thuật hay sản phẩm du lịch cũng mang lại những gợi mở có giá trị để vận dụng rộng rãi vào nghiên cứu văn học trong tương lai.

Bài và ảnh: Đoan Túc

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.