Từ di sản cảnh quan đô thị, nhìn lại cách ứng xử với Hồ Gươm:

Hồ Gươm có thực sự cần thêm một biểu tượng kiến trúc?

 15:01 | Thứ sáu, 25/09/2026  0
Nhân tọa đàm “Di sản cảnh quan đô thị: từ bảo tồn di tích đến gìn giữ cảnh quan, ký ức và bản sắc đô thị” do Tạp chí Người Đô Thị phối hợp với Khoa Địa lý – Đô thị, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia TP.HCM tổ chức, các chuyên gia tiếp tục mở rộng suy nghĩ về vấn đề quy hoạch hồ Hoàn Kiếm (Hồ Gươm), nơi những giá trị lịch sử, cảnh quan, kiến trúc, ký ức và đời sống cộng đồng đã đan cài qua nhiều thế hệ.

Chia sẻ với phóng viên Người Đô Thị, TS-KTS. Hoàng Anh Tú, Giảng viên Khoa Kiến trúc (Trường Đại học Kiến trúc TP.HCM), cho rằng bài toán chỉnh trang Hồ Gươm hôm nay không phải là làm thế nào để tạo ra một Hồ Gươm mới, mà là làm thế nào để một không gian đã có giá trị biểu tượng rất mạnh có thể thích ứng với nhu cầu của một đô thị hiện đại mà không đánh mất những quan hệ đã làm nên bản sắc của nó.

Theo cảm nhận của ông, với tư cách là một nhà nghiên cứu về bản Quy hoạch phân khu đô thị H1-1B (khu vực Hồ Gươm và phụ cận) đang được lấy ý kiến người dân thì Hồ Gươm đang cần được giải quyết vấn đề gì và quy hoạch mới có thực sự giải đúng bài toán đó?

TS-KTS. Hoàng Anh Tú.

Đối chiếu các thông tin mới nhất về phương án điều chỉnh Quy hoạch phân khu H1-1B/H1-1C đang được UBND TP Hà Nội lấy ý kiến từ 7–26.9.2026, đồng thời đặt nó trong khung lý thuyết Historic Urban Landscape – HUL của UNESCO, Washington Charter và Valletta Principles của ICOMOS chúng ta có thể nhận thấy điểm rất quan trọng là: đây hiện vẫn là phương án nghiên cứu để lấy ý kiến, chưa phải phương án được phê duyệt. Phạm vi nghiên cứu khoảng 65,89 ha, kết hợp quy hoạch 1/2.000 với giải pháp 1/500, có các đề xuất mở rộng không gian công cộng, tái cấu trúc một số khu đất/công trình và nghiên cứu công trình biểu tượng mới.

Theo tôi, với vai trò của những nhà nghiên cứu đô thị và di sản cảnh quan đô thị, chúng ta nên tránh sa vào việc “thích hay không thích” từng hình thức kiến trúc. Nên nâng vấn đề lên thành câu hỏi lớn hơn: Hồ Gươm cần thêm một vật thể mới, hay cần một mô hình quản trị sự biến đổi tốt hơn? Đây cũng rất gần với tinh thần chúng ta đã đặt ra tại tọa đàm “Di sản cảnh quan đô thị: Từ bảo tồn di tích đến gìn giữ cảnh quan, ký ức và bản sắc đô thị” vừa qua, tức là chuyển từ bảo tồn vật thể sang bảo tồn quan hệ, cấu trúc, ký ức và bản sắc của một hệ thống đô thị sống.

Theo tôi, bài toán của Hồ Gươm hôm nay không phải là làm thế nào để tạo ra một Hồ Gươm mới, mà là làm thế nào để một không gian đã có giá trị biểu tượng rất mạnh có thể thích ứng với nhu cầu của một đô thị hiện đại mà không đánh mất những quan hệ đã làm nên bản sắc của nó. Đây chính là thay đổi căn bản mà UNESCO đưa ra trong Recommendation on the Historic Urban Landscape – HUL năm 2011: di sản đô thị không chỉ là tập hợp các công trình cần bảo tồn, mà là một hệ thống nhiều lớp, bao gồm địa hình, mặt nước, cây xanh, cấu trúc đô thị, công trình kiến trúc, không gian công cộng, hoạt động kinh tế-xã hội, tập quán, ký ức và giá trị mà cộng đồng gán cho nơi chốn.

Vì vậy, tôi nhìn thấy ít nhất bốn bài toán thực sự của Hồ Gươm: bảo vệ tính toàn vẹn của cảnh quan lịch sử; nâng cao chất lượng không gian công cộng; giải quyết giao thông, hạ tầng và sức ép sử dụng; và cuối cùng là quản trị quá trình biến đổi trong dài hạn.

Một cảnh quan lịch sử không nhất thiết tốt hơn khi chúng ta làm cho nó “hoành tráng hơn”, “mới hơn” hay “đồng bộ hơn”. Đôi khi giá trị của nó chính là sự tích tụ không hoàn toàn đồng nhất của nhiều lớp thời gian.

Ở điểm này, tôi cho rằng hướng tiếp cận của đồ án có nhiều yếu tố tích cực. Chủ trương mở rộng không gian công cộng, tăng cây xanh, cải thiện kết nối giữa Hồ Gươm với các quảng trường và các công trình lịch sử-văn hóa, đồng thời kiểm soát phát triển mới, về nguyên tắc phù hợp với tư duy HUL.

Nhưng vấn đề cần thảo luận sâu hơn là mức độ can thiệp. Một cảnh quan lịch sử không nhất thiết tốt hơn khi chúng ta làm cho nó “hoành tráng hơn”, “mới hơn” hay “đồng bộ hơn”. Đôi khi giá trị của nó chính là sự tích tụ không hoàn toàn đồng nhất của nhiều lớp thời gian. Tôi thường dùng khái niệm palimpsest đô thị – đô thị như một bản thảo được viết chồng nhiều lớp. Hồ Gươm chính là một palimpsest như vậy. Điều chúng ta cần làm không phải là xóa một lớp để viết lại một lớp mới đẹp hơn, mà là cho phép các lớp lịch sử tiếp tục cùng tồn tại và có thể được đọc thấy. Bởi vậy, câu hỏi đối với quy hoạch không chỉ là “Phương án mới đẹp hơn không?”, mà phải là: “Sau sự can thiệp này, chúng ta còn đọc được bao nhiêu lớp lịch sử của Hồ Gươm?”

Phối cảnh công trình biểu tượng Khải hoàn môn, lấy cảm hứng từ đôi cánh chim hạc đang vươn lên, tạo điểm nhấn kết thúc trục đô thị khu phố cổ và mở ra trục không gian mới về phía Nam. Ảnh: UBND TP Hà Nội


Khi gọi Hồ Gươm chính là một palimpsest vậy theo ông ký ức cộng đồng, tiếng nói của họ được đưa vào quy hoạch bằng cách nào?

Ai sở hữu ký ức về Hồ Gươm? Tôi cho rằng đây là câu hỏi rất quan trọng, bởi ký ức đô thị không thuộc sở hữu độc quyền của nhà quản lý, kiến trúc sư hay nhà sử học. Ký ức Hồ Gươm trước hết thuộc về những cộng đồng đã sống, làm việc và sử dụng không gian ấy qua nhiều thế hệ: cư dân phố cổ và khu vực quanh hồ, những người kinh doanh, người đi bộ, người tập thể dục, người bán hàng, nghệ sĩ, học sinh, những gia đình Hà Nội nhiều thế hệ...

Nhưng Hồ Gươm đồng thời đã vượt ra ngoài phạm vi một cộng đồng địa phương. Nó là một phần của ký ức tập thể của Hà Nội và rộng hơn là ký ức văn hóa của quốc gia.

Do đó, tôi không nghĩ chỉ nên hỏi đơn giản “ai sở hữu ký ức về Hồ Gươm?” mà câu hỏi nên là: “Ai có quyền tham gia định nghĩa những giá trị của Hồ Gươm cần được truyền lại cho thế hệ sau?”. Và câu trả lời của tôi là: nhiều cộng đồng cùng có quyền đó. UNESCO HUL đặc biệt nhấn mạnh việc nhận diện giá trị của cộng đồng địa phương và đưa các bên liên quan vào quá trình xác định, bảo tồn và quản lý di sản; đồng thời đề xuất các công cụ như lập bản đồ văn hóa, tài liệu hóa các đặc trưng tự nhiên-văn hóa và đánh giá tác động xã hội, môi trường, di sản.

Không một thành phần riêng lẻ nào có thể đại diện cho Hồ Gươm. Giá trị của nơi chốn được tạo nên từ quan hệ giữa mặt nước, di tích, cây xanh, không gian mở, kiến trúc và đời sống đô thị. Ảnh: Internet


Việc Hà Nội đang lấy ý kiến cộng đồng qua nhiều kênh là bước cần thiết. Nhưng consultation – tham vấn thì không nên chỉ là hỏi người dân đồng ý hay không đồng ý với một phương án đã hình thành. Tôi muốn đi xa hơn, tới participatory heritage planning(quy hoạch di sản có sự tham gia). Tức là trước khi hỏi “anh/chị chọn phương án nào?”, chúng ta phải hỏi: “Điều gì ở Hồ Gươm mà anh/chị tuyệt đối không muốn thế hệ sau đánh mất?”. Nếu hàng nghìn câu trả lời được thu thập, lập bản đồ và phân tích, chúng ta sẽ có một Memory Map - Bản đồ ký ức Hồ Gươm. Theo tôi, đó mới thực sự là một lớp dữ liệu đầu vào rất quan trọng cho quy hoạch.

Vậy những nguyên tắc quản trị di sản nào phải được coi là bắt buộc? Từ HUL của UNESCO, Washington Charter 1987 và Valletta Principles 2011 của ICOMOS, tôi cho rằng đối với một không gian đặc biệt như Hồ Gươm cần tuân thủ một số nguyên tắc cốt lõi. Washington Charter đã nhìn các khu đô thị lịch sử cùng môi trường tự nhiên và nhân tạo của chúng như biểu hiện của các nền văn hóa đô thị; HUL tiếp tục mở rộng cách nhìn đó sang cả các giá trị phi vật thể, xã hội, kinh tế và môi trường.

Có thể cô đọng thành 6 nguyên tắc. (1) Bảo tồn cấu trúc trước khi bảo tồn vật thể riêng lẻ:
Phải giữ quan hệ giữa hồ – cây xanh – công trình – phố – quảng trường – skyline – trục nhìn – hoạt động xã hội; (2) Bảo tồn các lớp lịch sử, không tái tạo một “quá khứ lý tưởng”: Một công trình thuộc thời kỳ sau chưa chắc ít giá trị hơn công trình cũ hơn. Tuổi đời chỉ là một trong nhiều tiêu chí.; (3) Can thiệp tối thiểu nhưng tạo hiệu quả tối đa: Trong vùng di sản đặc biệt nhạy cảm, less can be more; (4) hông để công trình mới cạnh tranh với cấu trúc biểu tượng hiện hữu: Công trình mới có thể mang dấu ấn đương đại, nhưng phải tôn trọng tỷ lệ, skyline, visual corridor và hierarchy – thứ bậc thị giác của cảnh quan; (5) Mọi can thiệp lớn phải được đánh giá tác động di sản trước khi quyết định: UNESCO–ICCROM–ICOMOS–IUCN đã xây dựng hướng dẫn chuyên biệt về Impact Assessment đối với các can thiệp có khả năng tác động tới giá trị di sản: (6) Cộng đồng phải tham gia không chỉ ở cuối quy trình mà từ lúc xác định giá trị: Chúng ta có thể cô đọng sáu nguyên tắc này thành một câu: “Không bảo tồn Hồ Gươm như một bức tranh bất động; phải quản trị sự biến đổi của Hồ Gươm như một cảnh quan đô thị sống”.

Vẻ đẹp của Hồ Gươm là sự tĩnh lặng và trong trẻo, đưa con người quay trở về với tâm hồn của chính mình. Ảnh: Vũ Ngọc Tuấn/Flickr


Từ những nội dung trao đổi tại tọa đàm, đặc biệt là về vấn đề bảo tồn di sản cảnh quan, theo ông, đâu là những nguyên tắc quản trị di sản bắt buộc đối với các đồ án quy hoạch Hồ Gươm hiện nay? Và có cần một công trình biểu tượng mới bên Hồ Gươm, hay chính Hồ Gươm đã là biểu tượng?

Ở điểm này, quan điểm của tôi khá rõ: Hồ Gươm không thiếu biểu tượng. Hồ Gươm chính là biểu tượng. Tháp Rùa, mặt nước, cầu Thê Húc, đền Ngọc Sơn, Tháp Bút, các hàng cây, những phố bao quanh và cả đời sống xã hội diễn ra ở đó đã cùng nhau tạo thành một ensemble – tổng thể biểu tượng. Vì thế, tôi sẽ không bắt đầu bằng câu hỏi “Khải hoàn môn nên có hình thức như thế nào?”. Đề xuất này hiện mới là định hướng nghiên cứu, tên gọi và hình thức chưa phải phương án cuối cùng.

Tôi sẽ đặt câu hỏi trước đó: “Hồ Gươm có thực sự cần thêm một biểu tượng kiến trúc hay không?”. Đây là hai câu hỏi hoàn toàn khác nhau. Trong lý thuyết genius loci (tinh thần nơi chốn) của Christian Norberg-Schulz, kiến trúc tốt không nhất thiết tạo ra một bản sắc mới mà có thể làm cho bản sắc vốn có của nơi chốn trở nên rõ hơn. Tôi nghĩ đây là nguyên tắc rất phù hợp với Hồ Gươm.

Nếu một công trình mới khiến người ta nhìn công trình đó trước rồi mới nhìn thấy Hồ Gươm, thì chúng ta cần hết sức thận trọng. Còn nếu một can thiệp kiến trúc khiến người ta cảm nhận Hồ Gươm sâu sắc hơn, mở thêm những quan hệ thị giác, không gian và xã hội với hồ, thì đó có thể là kiến trúc đương đại tốt. Vì vậy, thay vì cố tạo một icon-object (vật thể biểu tượng), tôi thiên về việc nâng cao iconic landscape (cảnh quan biểu tượng).

Cảnh quan Hồ Gươm nằm trong tương quan ngày càng rõ với áp lực phát triển đô thị và mật độ xây dựng của khu vực trung tâm Hà Nội. Ảnh: Kayak


Từ kinh nghiệm nhiều năm làm việc về phát triển đô thị bền vững, ông có khuyến nghị gì trước các dự án tái thiết, chỉnh trang và đề xuất điều chỉnh quy hoạch xung quanh khu vực Hồ Gươm hôm nay và bài học cho những không gian cảnh quan di sản đô thị tương tự?

Tôi đặc biệt lưu ý việc phương án hiện nay nghiên cứu hạ giải một số công trình, tái cấu trúc các khu đất và tạo thêm quảng trường, công viên, không gian công cộng. Những thay đổi như vậy có thể đem lại lợi ích rất lớn, nhưng cũng có thể tạo ra những mất mát không thể đảo ngược.

Vì thế, trước những quyết định lớn, tôi đề nghị áp dụng một quy trình mà tôi gọi là: Value → Impact → Alternatives → Intervention → Monitoring (Tức là: Xác định giá trị → Đánh giá tác động → So sánh các kịch bản → Can thiệp → Theo dõi sau can thiệp), không nên đi trực tiếp từ: Ý tưởng → Thiết kế → Xây dựng. Đặc biệt, trước khi quyết định hạ giải một công trình, cần trả lời ít nhất ba câu hỏi: Công trình ấy mang giá trị gì – không chỉ kiến trúc mà còn lịch sử, xã hội, ký ức? Nếu mất nó, quan hệ không gian và ký ức nào sẽ mất theo? Có giải pháp nào đạt mục tiêu quy hoạch mà ít mất mát di sản hơn hay không? Đó chính là logic của Heritage Impact Assessment và cũng phù hợp với tinh thần HUL: quản lý thay đổi dựa trên hiểu biết đầy đủ về giá trị của cảnh quan.

Tôi không nghĩ Hồ Gươm đang cần chúng ta tạo thêm một biểu tượng. Hồ Gươm đã là biểu tượng. Điều chúng ta cần làm là để biểu tượng ấy tiếp tục được các thế hệ tương lai nhận ra, sử dụng, yêu quý và tạo thêm những ký ức mới của chính họ.

Tôi nghĩ bài học lớn nhất từ câu chuyện Hồ Gươm lần này không chỉ dành cho Hà Nội. Các đô thị Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển rất nhanh. Chúng ta có đủ công nghệ và nguồn lực để thay đổi thành phố với tốc độ chưa từng có. Nhưng chính vì vậy, câu hỏi quan trọng nhất không còn là “chúng ta có thể xây dựng cái gì?”, mà phải là “có những gì chúng ta không nên đánh mất?”.

Với Hồ Gươm, tôi cho rằng mục tiêu của quy hoạch không nên là tạo ra một Hồ Gươm mới, mà là giúp Hồ Gươm tiếp tục sống, tiếp tục thay đổi, nhưng vẫn luôn là chính nó. Như đã nói, một di sản cảnh quan đô thị không chỉ được tạo nên bởi công trình, mà bởi quan hệ giữa không gian, thời gian, con người và ký ức. Vì vậy, trước mỗi quyết định can thiệp, chúng ta nên đặt một câu hỏi rất đơn giản: Nếu công trình này được xây thêm, hoặc một công trình hiện hữu bị mất đi, Hồ Gươm có trở nên giàu có hơn về ký ức, bản sắc và đời sống đô thị hay không? Nếu câu trả lời chưa thật sự rõ ràng, tôi nghĩ chúng ta nên thận trọng. Bởi một công trình mới luôn có thể được xây dựng vào một thời điểm khác. Nhưng một lớp ký ức đô thị, một khi đã bị xóa đi, có thể sẽ không bao giờ phục hồi được.

Và cuối cùng, tôi không nghĩ Hồ Gươm đang cần chúng ta tạo thêm một biểu tượng. Hồ Gươm đã là biểu tượng. Điều chúng ta cần làm là để biểu tượng ấy tiếp tục được các thế hệ tương lai nhận ra, sử dụng, yêu quý và tạo thêm những ký ức mới của chính họ.

Trung Dũng thực hiện

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm
Cùng chuyên mục
Xem nhiều nhất

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.