Đô thị hóa là xu hướng toàn cầu trong thế kỷ XXI nhưng vấn đề cơ bản là khi trở thành đô thị hay các dự án du lịch, mỗi vùng đất ấy sẽ trở nên như thế nào?
Khi tư duy đồng bằng lên núi
Quá trình gia tăng dân số đô thị, sự phát triển của nền kinh tế cùng mạng lưới thông tin và giao thông cũng cho phép các đô thị được bố trí phân tán hơn nên việc phát triển đô thị tại những vùng đồi núi mà trước đây khó tiếp cận cũng là điều dễ hiểu. Những vùng đồi núi thường có khí hậu trong lành, có cảnh quan thiên nhiên độc đáo, ấn tượng. Thêm nữa, một yếu tố mà phát triển đô thị vùng đồi núi trở nên rất hấp dẫn là chi phí giải phóng mặt bằng thấp hơn nhiều so với các vùng đất nông nghiệp hoặc vốn đã có mật độ dân cư đông đúc.
Tuy nhiên vùng đồi núi có những đặc điểm tự nhiên và xã hội mà đô thị đồng bằng không có. Trước khi đưa ra những quyết sách để phát triển đô thị, có lẽ chúng ta cần tìm hiểu rõ những đặc thù này. Đó là một hệ thống trong đó đỉnh núi, sườn dốc, thung lũng, khe suối, rừng và đất đai liên hệ chặt chẽ với nhau. Nước từ trên cao rơi xuống, thấm vào đất, được giữ lại bởi thảm thực vật, tích tụ ở những vùng thấp, rồi tiếp tục hành trình qua các con suối đổ về miền thấp hơn.
Các khối đất đá ở vùng thấp tạo thành điểm tựa giúp hàng triệu tấn đất đá nằm phía trên duy trì trạng thái ổn định, hạn chế nguy cơ sạt lở. Hệ sinh thái các loài chim, thú trên mỗi vùng núi gắn liền với các loại cây rừng, thảm thực vật cũng rất đặc trưng khác với vùng đồng bằng.

Dự án The Hera Resort trên sườn đồi núi dọc quốc lộ 1D (phường Quy Nhơn Nam, tỉnh Gia Lai) với diện tích 16,62 ha chưa xây dựng nhưng đã chào bán các căn biệt thự đỉnh đồi. Ngày 30.7.2026, UBND tỉnh Gia Lai có văn bản yêu cầu nhà đầu tư không để dự án thi công cầm chừng; thực hiện đầy đủ giải pháp thoát nước, gia cố mái dốc, tường chắn và phòng, chống sạt lở… Ảnh: Nguyễn Hữu
Bên cạnh cấu trúc tự nhiên ấy còn có một cấu trúc xã hội đã hình thành từ lâu: đó là lịch sử của mỗi vùng đất, là xóm làng, đường mòn, ruộng nương, không gian sinh hoạt cộng đồng và những tri thức bản địa thích ứng với địa hình. Hệ sinh thái tự nhiên và văn hóa này có mối liên hệ khăng khít và nhạy cảm mà khi bị tác động, hiệu ứng domino có thể tạo ra những đứt gãy, sụp đổ rất khó vãn hồi.
Nhiều mô hình, cấu trúc đô thị thành công ở đồng bằng có thể thất bại khi đưa lên vùng đồi núi. Khi chúng ta không thiết kế những dự án có sự tôn trọng thiên nhiên thì hậu quả để lại là rất lâu dài. Một trong những sai lầm phổ biến nhất với các dự án ở vùng đồi núi là việc san lấp, thay đổi địa hình tự nhiên ở quy mô lớn để biến địa hình đồi núi thành các mặt phẳng phục vụ giao thông cơ giới và xây dựng công trình như đô thị ở đồng bằng.
Hình hài của các sườn núi đã hình thành và ổn định cân bằng, khi bị thay đổi sẽ tạo ra rất nhiều nguy cơ sạt lở. Thiên nhiên luôn trở về trạng thái cân bằng của trọng lực dưới tác động liên tục của mưa, của nước ngầm. Các giải pháp xây kè chống đỡ có thể có hiệu quả tạm thời nhưng không thể cưỡng lại sức nặng của đất đá và nước dẫn đến sạt lở gây ra hậu quả nghiêm trọng.
Những quy hoạch thiết kế hợp lý luôn biết tôn trọng môi trường sinh thái cũng như lịch sử, văn hóa của mỗi vùng đất, xem đó là bản sắc của nơi chốn để kế thừa và phát huy, là nền tảng để định cư và phát triển lâu bền. Chính việc hạn chế tối đa sự san lấp, thay đổi thiên nhiên để đưa ra những giải pháp thiết kế hài hòa, phù hợp với địa hình sẵn có mới tạo nên bản sắc rất riêng của một dự án.
Một vấn đề cơ bản nằm ở cách chúng ta đang đánh giá tiềm năng của những vùng đồi núi khi phát triển xây dựng. Nếu nhìn các sườn núi như một quỹ đất, điều đầu tiên cần quan tâm là diện tích có thể xây dựng, mật độ và hiệu quả sử dụng đất. Nhưng nếu nhìn khu vực đó như một hệ sinh thái, câu hỏi đầu tiên sẽ khác: đường phân thủy, tụ thủy ở đâu, khu vực rừng cần bảo tồn, địa hình nào nhạy cảm, vùng nào có khả năng chịu tải và nơi nào cần được giữ nguyên?
Hai cách nhìn ấy tạo ra hai mô hình phát triển hoàn toàn khác nhau. Một bên tìm cách biến địa hình thành mặt bằng thuận lợi cho công trình; một bên tìm cách để công trình thích ứng với địa hình. Có lẽ đây chính là điểm cần xem xét thay đổi trước tiên: thay vì coi độ dốc trên đồi núi là một trở ngại đối với đô thị, hãy coi địa hình, rừng, nước và cảnh quan là những tài nguyên cấu phần quan trọng của chính đô thị tương lai.
Có những yếu tố không trực tiếp quy đổi thành giá trị kinh tế nhưng đem lại lợi ích bền vững cho thiên thiên và con người. Một con suối nhỏ có thể không tạo ra doanh thu trực tiếp nhưng lại duy trì sự sống của cả hệ sinh thái. Một xóm làng có thể không có những công trình lớn nhưng chứa đựng ký ức, văn hóa và sinh kế của nhiều thế hệ. Khi quy hoạch chỉ tập trung vào những gì sẽ được xây dựng, chúng ta rất dễ bỏ qua những gì sẽ biến mất. Và đôi khi, chính những yếu tố bình dị ấy mới tạo nên sự độc đáo của một vùng đất.
Tôn trọng tự nhiên, giữ gìn bản sắc
Một xu hướng phổ biến hiện nay là các dự án tại vùng núi thường được quy hoạch và thiết kế biệt lập với cộng đồng và văn hóa địa phương. Trong thời đại toàn cầu hóa, các bản thiết kế ngày nay thường hướng tới những khách hàng cao cấp hơn từ nơi khác tới thay vì cộng đồng dân cư địa phương, dù đó là dự án nhà ở hay du lịch.
Cách tiếp cận này có thể tạo sự thống nhất về phong cách, tạo nên dấu ấn mạnh mẽ về thiết kế nhưng cũng có thể tạo ra sự chia cắt, biệt lập với cộng đồng và truyền thống văn hóa bản địa. Cộng đồng vốn là chủ nhân của vùng đất từ nhiều thế hệ bỗng chốc trở nên lạc lõng trên chính mảnh đất quê hương. Nếu không có những phương án an sinh xã hội và gắn kết về văn hóa, về sinh kế cho cộng đồng bản địa thì đó không phải là điều mà người dân mong muốn trong sự phát triển của đất nước.

Làng cổ Lộc Yên (Đà Nẵng), nơi người dân thích nghi với độ dốc vùng đồi núi bằng kỹ thuật tạo bậc thang để canh tác và cư trú. Vật liệu đá xếp được lọc ra khi cuốc xới sườn đồi, những bờ vách được xếp bằng tay, không vữa kết dính nhưng trải qua vài chục năm đến cả thế kỷ vẫn vững vàng, ổn định. Ảnh: Trần Tuấn
Trên dải đất Việt Nam với địa hình trải dài từ miền núi Trường Sơn đến các vùng ven biển, nhiều cộng đồng đã tích lũy những kinh nghiệm thích ứng với địa hình và khí hậu qua nhiều thế hệ. Những tri thức ấy, từ cách chọn đất, xem hướng đến tổ chức không gian cư trú, cần được tiếp thu như một phần di sản giúp con người phát triển hài hòa hơn với tự nhiên. Xây dựng trên vùng đồi núi vì thế không nên là sự chinh phục mà cần trở thành một phần hữu cơ của nơi chốn.
Có lẽ yếu tố cần tôn trọng đầu tiên khi khảo sát các vùng đồi núi là cấu trúc tự nhiên. Không phải chỗ nào còn trống cũng nhất thiết phải xây. Không phải mọi sườn núi đều cần được mở đường. Không phải mọi thung lũng đều cần được lấp đầy và không phải mọi dòng suối đều cần được đưa vào cống.
Đô thị cần thuận theo núi rừng
Phát triển đô thị cần thuận theo địa hình thay vì biến đổi địa hình đồi núi để phục vụ một ý tưởng chủ quan. Thay vì san phẳng một quả đồi, hạ tầng và công trình cần bám theo địa hình và đường đồng mức. Thay vì tạo ra những khu đất xây dựng thật lớn, có thể hình thành các cụm công trình nhỏ hơn, phân tán và kết nối với nhau. Thay vì mở những tuyến đường cắt thẳng qua sườn núi, giao thông có thể đi theo những nếp tự nhiên của địa hình.
Những khe suối có thể trở thành hành lang sinh thái, những thung lũng có thể trở thành không gian công cộng, còn những khu rừng có thể trở thành một phần của hệ thống hạ tầng xanh. Bấy giờ địa hình không còn là thứ phải được cải tạo để phục vụ đô thị mà trở thành yếu tố tổ chức nên hình thái đô thị.
Quy hoạch của Đà Lạt bởi các kỹ sư và kiến trúc sư người Pháp là một ví dụ về cách phát triển đô thị hài hòa với địa hình của nơi chốn. Ý tưởng giữ nước để tạo thành hồ Xuân Hương trên núi là một quyết định táo bạo, xuất sắc, vừa để lưu giữ một tài nguyên quý giá trên vùng núi phục vụ tưới tiêu, đồng thời tạo ra một sinh cảnh đô thị nên thơ, cân bằng sơn thủy đối với đô thị Đà Lạt.

Hồ Xuân Hương của Đà Lạt là Di tích danh thắng cấp quốc gia. Ảnh: Gia Bình
Từ trái tim hồ Xuân Hương đó, các tuyến phố theo đường đồng mức quanh co tạo nên vô số khung hình đẹp đẽ nơi các biệt thự của thành phố vườn thấp thoáng ẩn hiện trong cảnh quan và không cần phải san lấp địa hình làm hỏng vẻ đẹp của cảnh quan thiên nhiên. Mặc dù Đà Lạt hôm nay không còn giữ được hình hài nên thơ của thành phố vườn ban đầu, nhưng những định hình cơ bản của một đô thị trên cao nguyên vẫn tạo nên những dấu ấn đặc biệt quan trọng với thành phố này.
Tại nhiều vùng núi trên thế giới, các cộng đồng cũng đã phát triển những hình thức cư trú thích ứng với địa hình và khí hậu, thay vì cố xóa bỏ chúng. Những đô thị và thị trấn vùng Alps, các khu định cư miền núi Nhật Bản hay nhiều cộng đồng vùng cao ở châu Á cho thấy một điều đáng chú ý: giá trị không nằm ở việc họ có những công trình đẹp đến đâu mà ở cách họ tổ chức quan hệ giữa địa hình, nước, rừng, giao thông và đời sống con người. Những kinh nghiệm ấy không thể sao chép nguyên mẫu bởi mỗi vùng núi có một lịch sử và điều kiện riêng. Nhưng chúng cho thấy một nguyên lý có thể tham khảo: địa hình hoàn toàn có thể trở thành nền tảng tổ chức đô thị thay vì trở thành đối tượng bị đô thị hóa xóa bỏ.
Khi ấy, đô thị vùng đồi núi không còn là một mặt bằng xây dựng lớn mà là mạng lưới những cụm cư trú thích ứng với địa hình và sinh kế. Các trung tâm có thể nằm ở những thung lũng thuận lợi, khu dân cư bám theo các triền địa hình ổn định, trong khi rừng, suối và cảnh quan trở thành cấu trúc liên kết toàn bộ không gian. Chính những khoảng không gian không xây dựng mới tạo nên giá trị lâu dài của đô thị.
Quy mô, kích thước công trình trên sườn núi thực sự là một điều quan trọng cần được cân nhắc thấu đáo. Việc xây những công trình lớn hay những tượng đài hoành tráng trên núi tạo ra những dấu ấn từ xa là điều hấp dẫn mà nhiều dự án ngày nay đang hướng tới. Tuy nhiên, việc đến nơi và trải nghiệm mới là giá trị cốt lõi của nơi chốn. Các công trình cao lớn thường phải có phần chân đế khá rộng để ổn định, việc san lấp lớn không tránh khỏi gây xung đột với hệ sinh thái và địa hình tự nhiên. Sẽ thật thất vọng khi đến nơi phần chân đế kỹ thuật của các công trình đồ sộ là cái mà bạn sẽ thấy nhiều nhất, lấn át tất cả cảnh quan xung quanh.

Thị trấn Kiso của Nhật Bản, nơi các ngôi nhà thường được thiết kế men theo địa hình, tránh mọi san lấp lớn, tạo nên nhịp điệu sắc thái riêng của khu vực. Ảnh: CTV
Định hướng phát triển đô thị vùng đồi núi thuận tự nhiên cần được tạo thành một phương thức phát triển thực tế, dễ thực hiện. Trước hết, quy hoạch vùng đồi núi cần bắt đầu bằng một bản đồ tự nhiên chứ không phải một bản đồ hạ tầng duy ý chí. Cần hiểu địa hình, độ dốc, địa chất, thủy văn, rừng, hệ sinh thái và những không gian văn hóa của cộng đồng trước khi xác định vị trí xây dựng.
Hạ tầng cũng cần được thiết kế theo nguyên lý thích ứng: giữ nước thay vì chỉ thoát nước, đi theo địa hình thay vì cắt địa hình, bảo vệ hành lang sinh thái thay vì lấp đầy mọi khoảng trống. Quan trọng hơn, cộng đồng địa phương cần được xem là một phần của quá trình phát triển, bởi một đô thị miền núi chỉ thực sự bền vững khi nó tạo ra cơ hội mới mà không làm mất đi nền tảng sinh kế và văn hóa vốn có.
Một đô thị bền vững không nhất thiết phải là nơi có thật nhiều công trình quy mô hoành tráng, những quảng trường thật lớn hay những con đường thật rộng. Nơi ấy chúng ta cần thấy vẻ đẹp của thiên nhiên ngay cả sau khi đô thị xuất hiện, vẫn nghe thấy tiếng nước trong những khe suối, vẫn nhận ra rừng trên những sườn núi, vẫn thấy những xóm làng và những lớp văn hóa cũ trong cấu trúc mới. Đô thị không còn đứng đối diện với tự nhiên như một thế lực muốn chinh phục, mà trở thành một điểm xuyết tinh tế, làm sinh động hơn một sinh cảnh đã tồn tại từ trước. Và có lẽ, đó mới là dấu hiệu của một nền đô thị trưởng thành: không phải đô thị hóa rừng núi, mà làm cho thành phố biết cách sống hài hòa trong sự bao la của núi rừng và hệ sinh thái thiên nhiên.
KTS. Trần Tuấn - Nhóm nghiên cứu không gian mặt nước Hà Nội - HWSUD