Tái hiện Tháp Báo Thiên - “tháp khải hoàn” của Thăng Long thế kỷ XI và cách gọi lại ký ức Hà Nội xưa

 15:45 | Thứ tư, 16/09/2026  0
Điều chỉnh Quy hoạch phân khu đô thị H1-1B và H1-1C, khu vực hồ Hoàn Kiếm và vùng phụ cận, đang mở ra cơ hội đặc biệt để Hà Nội nhìn lại toàn bộ hệ thống không gian di sản quanh Hồ Gươm. Đây không nên được xem đơn thuần là một bài toán chỉnh trang đô thị, tổ chức lại giao thông hay tạo dựng thêm một vài công trình kiến trúc mới. Quan trọng hơn, đây là cơ hội để nhận diện, phục hồi và kết nối những lớp ký ức đã làm nên cấu trúc lịch sử của trung tâm Thăng Long, Hà Nội.

Từ góc nhìn đó, câu chuyện về “Khải hoàn môn” được đề xuất tại khu vực Quảng trường Hòa Bình, Đông Kinh Nghĩa Thục cần được đặt trong một phạm vi rộng hơn. Câu hỏi không chỉ là Hà Nội có nên xây dựng một công trình mới mang dáng dấp khải hoàn môn hay không, mà trước hết phải hỏi: Hà Nội đã có những biểu tượng lịch sử nào, và chúng ta đã thực sự khai thác được giá trị của chúng hay chưa?

Một trong những biểu tượng đặc biệt ấy chính là Tháp Báo Thiên, công trình từng đứng sừng sững tại khu vực nay là Nhà thờ Lớn Hà Nội.

Từ Tháp Báo Thiên đến ý niệm tháp khải hoàn của Thăng Long

Trong lịch sử kiến trúc và văn hóa Việt Nam, Tháp Báo Thiên giữ một vị trí đặc biệt. Tháp được khởi dựng năm 1057, dưới triều vua Lý Thánh Tông, trong khuôn viên chùa Báo Thiên, thuộc khu vực đất quanh Nhà thờ Lớn Hà Nội ngày nay. Công trình là một trong An Nam tứ đại khí, cùng với tượng Phật chùa Quỳnh Lâm, chuông Quy Điền và vạc Phổ Minh, phản ánh trình độ kỹ thuật, mỹ thuật và năng lực tổ chức xã hội của Đại Việt thời Lý, Trần.

Tháp Báo Thiên, một trong “An Nam tứ đại khí”, từng hiện diện bên hồ Lục Thủy, khu vực phía tây Hồ Gươm ngày nay. Hình ảnh công trình đã mất gợi mở một lớp ký ức quan trọng của Thăng Long thời Lý. Ảnh mô phỏng Tháp Báo Thiên. Nguồn: Wikipedia


Theo các tư liệu lịch sử và mô tả kiến trúc, Tháp Báo Thiên là một bảo tháp 12 tầng, thuộc hàng những công trình cao lớn của kinh thành Thăng Long đương thời. Thân tháp bằng gạch, đá, được trang trí với rồng, chim muông, tượng người và tượng Kim Cương; phần trên sử dụng đồng. Một số tư liệu ghi nhận trên đỉnh tháp có dòng chữ “Đao ly thiên”, gợi hình ảnh ngọn giáo vươn chạm trời xanh.

Đáng chú ý, Tháp Báo Thiên, bên cạnh ý nghĩa tôn giáo, ngọn tháp còn mang một thông điệp chính trị và văn hóa rõ rệt, biểu đạt sức mạnh của quốc gia, vị thế của kinh đô và tinh thần độc lập, tự cường của Đại Việt. Với độ cao và quy mô đặc biệt, Tháp Báo Thiên có thể được nhìn nhận như một dạng “tháp khải hoàn” sớm nhất bằng kiến trúc và tâm linh của Thăng Long thế kỷ XI. Đó không phải khải hoàn môn theo mô hình La Mã, mà là một biểu tượng được tạo dựng từ tín ngưỡng, kiến trúc và niềm tự hào về một quốc gia đang ở thời kỳ thịnh trị, về một kinh đô đang khẳng định vị thế và về một nền văn minh có đủ năng lực tạo dựng những công trình hoành tráng của riêng mình.

Ý nghĩa ấy càng đáng được lưu ý khi chúng ta đang bàn về một công trình biểu tượng mới tại Hồ Gươm. Nếu Hà Nội cần một biểu tượng kiến trúc mới, trước hết cần tìm lại logic biểu tượng vốn đã tồn tại trong lịch sử của chính thành phố. Không nhất thiết phải sao chép một mô hình khải hoàn môn từ bên ngoài, trong khi Hà Nội từng có những công trình biểu tượng vươn cao mang bản sắc riêng và gắn chặt với ký ức của Thăng Long.

Sơ đồ và mặt cắt tổng thể các công trình trong phương án Điều chỉnh quy hoạch Hồ Gươm và khu vực phụ cận. Ảnh: UBND TP. Hà Nội


Tháp Báo Thiên đã mất từ lâu. Qua những biến thiên lịch sử, thiên tai, chiến tranh và quá trình biến đổi đô thị, công trình bị phá dỡ hoàn toàn trong thời kỳ Pháp thuộc để hình thành Nhà thờ Lớn. Tuy nhiên, sự biến mất về vật chất không đồng nghĩa với sự biến mất khỏi ký ức đô thị. Tháp Báo Thiên vẫn là một tầng ký ức quan trọng của Hà Nội, một dấu mốc giúp chúng ta nhận diện những lớp lịch sử chồng xếp trên cùng một không gian.

Vì vậy, thay vì chỉ đặt vấn đề xây dựng một “Khải hoàn môn” mới, tác giả cho rằng cần nghiên cứu khả năng tái hiện ký ức Tháp Báo Thiên trong không gian hiện đại. Có thể là một không gian triển lãm, một bảo tàng số, một không gian ký ức, hoặc những giải pháp nghệ thuật ánh sáng, trình chiếu 3D Mapping. Điều quan trọng không phải là phục dựng một cách cơ học một công trình đã mất, mà là làm cho tầng lịch sử ấy hiện diện trở lại trong nhận thức của cộng đồng.

Nếu trục Nhà thờ Lớn, tòa soạn Báo Nhân Dân và Hồ Gươm được tổ chức như một hành lang di sản, Tháp Báo Thiên có thể trở thành một điểm nhấn đặc biệt trong hành lang ấy. Nó giúp nối kiến trúc hiện hữu với lịch sử đã mất, nối Hà Nội hiện đại với Thăng Long cổ và quan trọng hơn, trả lại cho khu vực một phần ký ức đã bị che khuất bởi quá trình đô thị hóa.

Đánh thức ký ức ngành nghề và các thiết chế đô thị quanh Hồ Gươm

Từ câu chuyện Tháp Báo Thiên, có thể mở rộng cách tiếp cận đối với hệ thống công trình và không gian quanh Hồ Gươm. Mỗi công trình hiện hữu, bên cạnh giá trị kiến trúc và chức năng đang đảm nhiệm, đều có thể được xem như một “địa chỉ ký ức” của thành phố. Trong quá trình chỉnh trang và tái cấu trúc, nên dành một phần không gian thích hợp để giới thiệu lịch sử công trình, truyền thống của ngành, nghề hoặc lĩnh vực mà công trình đại diện. Đây có thể là phòng trưng bày, không gian tư liệu, điểm diễn giải di sản hoặc, với những địa điểm có điều kiện đặc biệt, phát triển thành bảo tàng chuyên đề.

Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục, một trong những không gian công cộng quan trọng ở cửa ngõ phố cổ, đang được tổ chức lại theo hướng mở rộng không gian dành cho cộng đồng. Ảnh: VGP/TC/UBND TP. Hà Nội


Tại Quảng trường Hòa Bình, Đông Kinh Nghĩa Thục, có thể nghiên cứu một không gian giới thiệu ký ức Ga xe điện Bờ Hồ, nơi từng là đầu mối giao thông quan trọng của Hà Nội đầu thế kỷ XX. Không gian này có thể kết hợp ngầm và mặt đất, giúp lưu giữ hình ảnh “tiếng leng keng tàu điện”, đồng thời kể câu chuyện về tư duy tổ chức giao thông công cộng và quá trình hiện đại hóa đô thị Hà Nội.

Ban đêm, nghệ thuật ánh sáng có thể tiếp tục đảm nhiệm vai trò kết nối. Một dải ánh sáng được thiết kế có chủ đích, thậm chí kết hợp với công nghệ trình chiếu, có thể tạo nên một hành lang thị giác nối mặt nước Hồ Gươm, Tháp Hòa Phong và không gian chùa Báo Ân. Đây là cách “nối lại” lịch sử bằng ngôn ngữ đương đại, thay vì cố gắng phục dựng nguyên trạng những gì không còn khả năng phục dựng.

Đền Bà Kiệu và tam quan nằm hai phía đường Đinh Tiên Hoàng, tạo nên một không gian di tích bị chia cắt bởi hạ tầng giao thông hiện đại. Ảnh: TL/UBND TP. Hà Nội


Đền Bà Kiệu cũng cần được tiếp cận theo tinh thần đó. Việc đường Đinh Tiên Hoàng chia cắt Tam quan với Hậu cung đã làm suy giảm tính toàn vẹn của không gian di tích. Ban ngày, có thể sử dụng giải pháp đồng bộ hóa vật liệu lát nền, tổ chức lối đi ưu tiên cho người đi bộ và hạ ngầm hạ tầng để tạo cảm giác liên tục về mặt thị giác. Ban đêm, chiếu sáng nghệ thuật có thể định hình một hành lang tâm linh nối Tam quan với Hậu cung, qua đó phục hồi phần nào tính liên tục và sự tôn nghiêm của không gian đền.

Tại khu vực UBND thành phố Hà Nội, cần nghiên cứu một quy hoạch chi tiết theo hướng tăng cường không gian cây xanh phía trước, đồng thời khai thác giá trị của các công trình kiến trúc Pháp còn lại trong khuôn viên. Một phần công trình có thể được nghiên cứu chuyển đổi thành không gian giới thiệu lịch sử Dinh Thị trưởng, tức Đốc lý Hà Nội, qua đó kể lại lịch sử quản trị và biến đổi đô thị của thành phố.

Ảnh phối cảnh gợi ý khu vực UBND TP. Hà Nội. Ảnh: UBND TP. Hà Nội.


Điều quan trọng nhất của quy hoạch khu vực Hồ Gươm không phải là tạo thêm thật nhiều công trình, mà là làm cho những gì đang có và những gì đã mất có thể kể được cùng một câu chuyện.

Chùa Báo Ân là một ví dụ điển hình. Trong sân Bưu điện Hà Nội có thể nghiên cứu việc tái hiện một phần ký ức về ngôi chùa từng tồn tại tại đây. Tháp Hòa Phong, di tích còn lại trên bờ hồ, cần được đặt trong mối quan hệ trực tiếp với không gian Bưu điện, nơi gắn với nền chùa cũ. Hiện nay, đường Đinh Tiên Hoàng tạo ra sự chia cắt giữa các thành phần vốn thuộc về cùng một cấu trúc lịch sử. Quy hoạch có thể khắc phục điều này bằng việc thống nhất chất liệu lát nền, tổ chức lối đi ưu tiên cho người đi bộ, hạ ngầm hạ tầng và sử dụng các giải pháp giao thông phù hợp.

Bưu điện Hà Nội bên Hồ Gươm, một thiết chế đô thị tiêu biểu cho lịch sử thông tin, liên lạc và quá trình hiện đại hóa thành phố. Ảnh: Wikipedia

Tháp Hòa Phong, dấu tích còn lại của chùa Báo Ân bên Hồ Gươm, là một ví dụ tiêu biểu cho những lớp di sản đã mất hoặc biến đổi nhưng vẫn có thể được nhận diện trong cấu trúc đô thị hiện nay. Ảnh: TripAdvisor

Ảnh phối cảnh đề xuất khu vực Bưu điện Hà Nội, chùa Báo Ân, Khách sạn Tràng Tiền. Ảnh: UBND TP. Hà Nội


Với tòa soạn Báo Nhân Dân, cần ưu tiên bảo tồn kiến trúc, chỉnh trang cảnh quan và nghiên cứu dành một phần không gian giới thiệu lịch sử báo chí, lịch sử tòa soạn. Đặc biệt, việc mở thông tuyến phố Nhà Thờ qua khuôn viên Báo Nhân Dân ra Hồ Gươm sẽ tạo một hành lang đi bộ và không gian xanh có giá trị, kết nối Nhà Thờ Lớn với Hồ Gươm và đồng thời gợi lại ký ức Tháp Báo Thiên.

Tại khu vực 16 Lê Thái Tổ, có thể nghiên cứu không gian giới thiệu về Đông Kinh Nghĩa Thục, trong khi khu vực Tượng đài Vua Lê Thái Tổ và Đền Vua Lê cũ cần được tổ chức lại để làm nổi bật câu chuyện trả gươm, hòa bình và bản sắc lịch sử của Hồ Gươm. Nếu đủ điều kiện, những địa điểm này có thể phát triển thành các không gian trưng bày hoặc bảo tàng chuyên đề, nhưng không nhất thiết phải xây dựng thêm công trình mới.

Ảnh phối cảnh đề xuất Quảng trường Đền Vua Lê - Tòa soạn Báo Nhân dân - Nhà Thờ Lớn. Ảnh: UBND Tp. Hà Nội

Tượng vua Lê Thái Tổ bên Hồ Gươm gắn với truyền thuyết trả gươm và lớp ký ức lịch sử hình thành nên tên gọi Hoàn Kiếm của hồ. Ảnh: Hà Thành/VnExpress


Cách tiếp cận tương tự có thể áp dụng với Báo Hà Nội Mới, Đồn Công an Hoàn Kiếm, Nhà hát Múa rối Thăng Long, khu vực Điện lực Hà Nội và Bưu điện Hà Nội. Mỗi công trình có thể dành một phần không gian để kể câu chuyện về lịch sử báo chí, an ninh đô thị, nghệ thuật múa rối nước, điện lực, bưu chính và viễn thông. Với Nhà hát Múa rối Thăng Long, có thể kết hợp không gian biểu diễn với giới thiệu con rối, nghệ nhân và kỹ thuật thủy công. Với Bưu điện Hà Nội, có thể nghiên cứu thêm ý tưởng Cột mốc số 0 như một điểm nhấn địa lý kết hợp nghệ thuật công cộng.

Như vậy, mục tiêu không phải là “bảo tàng hóa” Hồ Gươm mà là làm cho mỗi công trình có khả năng kể câu chuyện về chính mình và về lớp ký ức đô thị mà nó đại diện. Khi được kết nối bằng mạng lưới không gian công cộng, các điểm ký ức ấy sẽ tạo nên một “bảo tàng sống” của Hà Nội, nơi lịch sử hiện diện ngay trong cấu trúc đô thị và đời sống đương đại.

Kết nối những mảnh ký ức thành một cấu trúc không gian mới

Nhìn tổng thể, những đề xuất trên không phải là một danh sách các bảo tàng cần xây thêm, càng không phải là việc biến toàn bộ khu vực Hồ Gươm thành một tổ hợp công trình trưng bày. Điều cần thiết là hình thành một mạng lưới ký ức đô thị, trong đó mỗi địa điểm giữ một câu chuyện riêng nhưng cùng tham gia vào một cấu trúc lớn hơn.

Tòa soạn Báo Hà Nội Mới, tiền thân từ tờ báo “Thời mới” xưa, tại 44 Lê Thái Tổ, một công trình kiến trúc gắn với lịch sử báo chí và đời sống đô thị Hà Nội. Ảnh: MIA.vn


Hồ Gươm vì thế có thể được nhìn như một “bảo tàng sống”. Trong không gian ấy, Tháp Báo Thiên đại diện cho tầng Thăng Long thời Lý; ký ức Chùa Báo Ân và Tháp Hòa Phong gợi lại những lớp lịch sử tiếp nối; Tượng đài Vua Lê và không gian Đền Vua Lê kể câu chuyện về chiến thắng, hòa bình và chính danh; Đông Kinh Nghĩa Thục phản ánh tinh thần cải cách đầu thế kỷ XX; xe điện, báo chí, bưu điện, điện lực và các thiết chế đô thị kể lại quá trình hiện đại hóa Hà Nội; Nhà hát Múa rối nước đưa nghệ thuật truyền thống vào đời sống đương đại.

Các tầng lịch sử ấy không nhất thiết phải được tái tạo bằng những công trình đồ sộ. Nhiều khi chỉ cần một không gian ký ức được thiết kế tốt, một dấu tích được giải thích đúng, một bảo tàng nhỏ, một tuyến đi bộ, một lớp lát nền, một tác phẩm nghệ thuật công cộng hay một hệ thống ánh sáng có chủ đích cũng đủ làm thay đổi cách con người đọc thành phố.

Nhà hát Múa rối Thăng Long, một địa chỉ văn hóa có thể kết nối không gian biểu diễn với câu chuyện về nghệ thuật múa rối nước và những người làm nghề. Ảnh: Nhà hát Múa rối Thăng Long


Đồ án điều chỉnh quy hoạch khu vực Hồ Hoàn Kiếm và vùng phụ cận vì vậy cần được xem như một cơ hội lịch sử để đánh thức toàn bộ các tầng vỉa di sản của khu vực, từ Lý, Trần, Lê, Nguyễn đến thời Pháp và Hà Nội hiện đại. Khi các tầng ký ức ấy được nhận diện, bảo tồn và kết nối bằng những giải pháp kiến trúc, quy hoạch, nghệ thuật công cộng, chiếu sáng và không gian ngầm, Hồ Gươm sẽ có cơ hội trở thành một cấu trúc di sản sống động, nơi lịch sử không nằm yên trong sách vở mà hiện diện trong từng bước chân của người dân và du khách.

Mặt khác, việc khơi lại những lớp ký ức đô thị quanh Hồ Gươm cũng mở ra khả năng phát huy giá trị di sản trong đời sống đương đại. Khi các địa điểm lịch sử, thiết chế văn hóa và dấu tích đô thị được diễn giải, kết nối bằng không gian công cộng, nghệ thuật và các hoạt động văn hóa, Hồ Gươm có thể trở thành một điểm đến giàu sức hấp dẫn cho du lịch đêm và kinh tế đêm. Đây cũng là hướng tiếp cận phù hợp với tinh thần Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, trong đó di sản được nhìn nhận như một nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa và tạo dựng những giá trị mới từ nền tảng lịch sử.

Và khi đó, Hà Nội có thể không cần đi tìm một “biểu tượng mới” ở bên ngoài lịch sử của mình. Biểu tượng ấy có thể đã ở đây từ hơn một nghìn năm trước, chỉ là chúng ta chưa tìm được cách để gọi nó trở về.

PGS-TS. Lưu Đức Hải - Viện trưởng Viện Nghiên cứu đô thị và Phát triển hạ tầng

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm
Cùng chuyên mục
Xem nhiều nhất

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.