Bảo tồn thích ứng di sản cảnh quan đô thị

 07:48 | Thứ ba, 06/10/2026  0
LTS: Làm thế nào để TP.HCM tiếp tục phát triển và đổi mới mà không đánh mất những cảnh quan đã tạo nên ký ức và bản sắc của chính mình? Câu hỏi này cũng là một trong những thông điệp quan trọng từ cuộc Tọa đàm khoa học “Di sản cảnh quan đô thị: Từ bảo tồn di tích đến gìn giữ cảnh quan, ký ức và bản sắc đô thị” do Khoa Địa lý - Đô thị, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia TP.HCM, phối hợp Tạp chí Người Đô Thị tổ chức ngày 10.9.2026.

Theo TS. Lê Thanh Hòa, Trưởng Khoa Địa lý - Đô thị (Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn), là một đô thị có lịch sử hình thành và phát triển lâu dài với nhiều lớp không gian, văn hóa và ký ức nên di sản của TP.HCM không chỉ hiện diện trong những công trình hay di tích đã được xếp hạng mà còn trong cấu trúc đô thị, hệ thống sông và kênh rạch, các khu phố, chợ truyền thống, công viên, hàng cây lâu năm, khu công nghiệp và cảng cũ, trong đời sống và ký ức của cộng đồng cư dân.

Theo ông Hòa, trong bối cảnh thành phố đang phát triển và chuyển đổi mạnh mẽ, vấn đề bảo tồn đô thị cần được nhìn nhận rộng hơn: từ bảo tồn từng công trình riêng lẻ đến nhận diện và gìn giữ cảnh quan, không gian, ký ức và bản sắc đô thị.

Tọa đàm có sự tham dự trực tiếp và trực tuyến từ Úc, Hà Nội của hơn 30 chuyên gia, nhà nghiên cứu, kiến trúc sư... cùng lãnh đạo và đại diện cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức chuyên ngành: UBND phường Sài Gòn, Viện Quy hoạch Xây dựng, Hội Di sản Văn hóa TP.HCM, Hội Khoa học Lịch sử TP.HCM...


Đại diện Tạp chí Người Đô Thị, nhà báo Nguyễn Thế Thanh, thành viên Hội đồng Biên tập, cho biết còn một nguy cơ rất lớn đang đe dọa sự phát triển bền vững của đô thị. Đó là những diễn biến trong năng lực bảo tồn các di sản làm nên bản sắc đô thị.

Bà Thanh nhấn mạnh đã đến lúc phải mở rộng tư duy bảo tồn: “Thay vì giữ một di tích cùng với khu vực bảo vệ nó như Luật Di sản Văn hóa ở khoản 18, điều 4 giải thích là cảnh quan của di tích, phải quản trị di tích trong cả hệ thống đô thị sống động. Thay vì chỉ khẳng định di tích trong đô thị, còn cần phải nhấn mạnh đến di sản cảnh quan đô thị vì đó là sự kết hợp giữa các giá trị thiên nhiên, kiến trúc, không gian công cộng và ký ức cộng đồng được bồi đắp qua lịch sử hình thành của một thành phố.

Nếu không kịp thời lan tỏa rộng (trong truyền thông đại chúng, trong giáo dục học đường) việc nhận diện di sản cảnh quan đô thị trong bối cảnh đương đại, nếu không nhanh chóng tiến hành phân loại các cảnh quan cần được xem là di sản, không kịp thời chỉ rõ các giá trị của di sản cảnh quan đô thị cần bảo vệ thì sẽ dẫn tới tình trạng cùng cực mà các nhà nghiên cứu đã chỉ ra: không chỉ mất từng công trình mà là đứt gãy những quan hệ không gian đã tạo nên cảnh quan và ký ức đô thị - những yếu tố tạo ra hồn vía và bản sắc đô thị”.

Nhà báo Nguyễn Thế Thanh, Thành viên Hội đồng Biên tập Tạp chí Người Đô Thị, chia sẻ tại Tọa đàm. Ảnh: T.D.


Khi cảnh quan là di sản đô thị 

Trong một thời gian dài, bảo tồn di sản đô thị chủ yếu được tiếp cận thông qua nhận diện, xếp hạng và bảo vệ những công trình kiến trúc, di tích hoặc quần thể có giá trị lịch sử, văn hóa và nghệ thuật. Theo TS-KTS. Hoàng Anh Tú (giảng viên Khoa Kiến trúc, Trường Đại học Kiến trúc TP.HCM), cách tiếp cận này dẫu góp phần quan trọng vào việc gìn giữ nhiều di sản có giá trị nhưng ngày càng bộc lộ những giới hạn trước tốc độ và quy mô biến đổi của đô thị đương đại. 

“Một công trình lịch sử không tồn tại độc lập”, ông Tú nói giá trị của công trình được hình thành trong mối quan hệ với đường phố, quảng trường, công viên, cây xanh, dòng sông, kênh rạch, địa hình, trục nhìn, đường chân trời, cấu trúc lô phố, các hoạt động xã hội và những lớp ký ức được cộng đồng tích lũy qua thời gian.

Hàng cây cổ thụ với nhiều cây trăm tuổi trên đường Tôn Đức Thắng - TP.HCM giờ chỉ còn trong ký ức


Cách tiếp cận mới khiến đối tượng bảo tồn không chỉ mở rộng về quy mô mà quan trọng hơn là sự thay đổi về bản chất tư duy bảo tồn: từ vật thể sang quan hệ, từ công trình sang cấu trúc, từ hình thức sang ký ức và ý nghĩa, từ bảo vệ một đối tượng tĩnh sang quản trị sự biến đổi của một hệ thống đô thị sống. Sự chuyển đổi này phản ánh quá trình phát triển của tư duy bảo tồn quốc tế, từ bảo vệ di tích đơn lẻ sang quần thể kiến trúc và đô thị, cảnh quan văn hóa, di sản đô thị và đặc biệt là cách tiếp cận cảnh quan đô thị lịch sử (Historic Urban Landscape - HUL) được UNESCO khuyến nghị từ năm 2011. 

Cách tiếp cận mở rộng này giúp nhận dạng di sản cảnh quan đô thị ở nhiều dạng thức khác nhau. Có thể là cảnh quan lịch sử trung tâm đô thị nơi cấu trúc đường phố, ô phố, công trình, quảng trường và không gian công cộng cùng tạo thành một tổng thể có giá trị; là cảnh quan sông nước và waterfront (tạm dịch là khu vực ven nước) nơi lịch sử hình thành thành phố gắn với sông, kênh rạch, bến cảng và các hoạt động giao thương; là cảnh quan công nghiệp và bến cảng nơi các nhà kho, bến tàu, đường sắt, nhà máy cùng những cấu trúc kỹ thuật trở thành chứng tích của quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đô thị. Cũng có thể là công viên lịch sử, vườn đô thị, đại lộ, hàng cây, quảng trường và các hệ thống không gian công cộng, những thành phần thường ít được nhận diện như “di sản” nhưng lại đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành cấu trúc và ký ức của thành phố. 

Từ phải: TS. Lê Thanh Hòa, nhà báo Nguyễn Thế Thanh, TS-KTS. Hoàng Anh Tú điều hành phiên thảo luận trong tọa đàm.


Bên cạnh các giá trị vật thể, di sản cảnh quan đô thị còn chứa đựng những giá trị phi vật thể, chẳng hạn như tập quán sử dụng không gian, sinh hoạt cộng đồng, ký ức tập thể, tên gọi địa danh, sự kiện lịch sử và những ý nghĩa xã hội mà cộng đồng gắn với nơi chốn. Chính sự kết hợp giữa các yếu tố vật thể và phi vật thể tạo nên tính liên tục lịch sử của cảnh quan đô thị. 

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy bảo tồn di sản cảnh quan đô thị và nhu cầu đô thị hóa không phải là trạng thái nhị nguyên. Trong chừng mực nào đó, những vận động, đổi thay đo lường sức sống của thành phố. Nhưng thay đổi như thế nào, đến mức độ nào để thành phố tiếp tục phát triển và đổi mới mà không đánh mất những cảnh quan đã tạo nên ký ức và bản sắc của chính mình là câu hỏi cấp thiết mà TS-KTS. Hoàng Anh Tú quan tâm.

Thực tế là tình trạng mất mát di sản ở nhiều tầng nấc, dạng thức trong nhiều nhiệm kỳ thúc đẩy đô thị hóa. Di sản bị tổn thương, bị “chôn sống” bởi sự vô cảm, vô minh. Nhận thức là một quá trình (chưa kể từ nhận thức đến hành động hiệu quả có khi lại thêm một bước dài). Thách thức đối với hoạt động gìn giữ và phát triển di sản cảnh quan đô thị là đẩy nhanh tốc độ nâng cao nhận thức của các bên liên quan trước khi di sản cảnh quan đô thị bị xâm thực như phần lớn di sản công nghiệp ven sông tại TP.HCM đã bị tháo dỡ hoặc biến đổi mất kiểm soát. Những khu vực hiếm hoi còn sót lại như cảng Khánh Hội và bến Bình Đông trở nên đặc biệt quan trọng, không chỉ lưu giữ cấu trúc công nghiệp - thương nghiệp truyền thống mà còn là những mảnh ghép cuối cùng của ký ức đô thị cảng.

Khu nhà xưởng và kho lương thực xay xát lúa gạo, bột mì tại bến Bình Đông.


Kinh nghiệm quốc tế và 3 trụ cột bảo tồn thích ứng di sản công nghiệp ven sông

“Trong lĩnh vực bảo tồn thích ứng, di sản công nghiệp bao gồm các khu cảng biển cần được tái sử dụng theo cách duy trì ký ức công nghiệp và tính liên tục văn hóa thay vì chỉ bảo tồn vật thể”, ThS-KTS. Nguyễn Vũ Mai Hân - đồng tác giả và cũng là đồng nghiệp của TS-KTS. Hoàng Anh Tú - trình bày tham luận “Bảo tồn thích ứng và tái thiết cảnh quan ven sông từ di sản công nghiệp TP.HCM”. 

Tham luận nêu ra nhiều kinh nghiệm quốc tế. Ở Đức, HafenCity là một trong những dự án chuyển đổi cảng đô thị lớn nhất châu Âu, nơi các kho bãi và nhà ga cảng cũ được tái sử dụng thành khu đô thị mới kết hợp nhà ở, văn phòng và không gian công cộng ven sông Elbe. Điểm nổi bật của HafenCity là việc giữ lại các cấu trúc công nghiệp đặc trưng như bến tàu, cầu cảng và nhà kho gạch đỏ, từ đó tạo nên một cảnh quan đô thị vừa hiện đại vừa gắn với lịch sử cảng biển.

Với dự án London Docklands ở Anh, các bến cảng, kho hàng và tuyến kênh cũ được chuyển đổi thành không gian công cộng, tuyến đi bộ ven sông và các khu thương mại mới, nhưng vẫn giữ lại những yếu tố công nghiệp như cần cẩu, nhà kho thép và cấu trúc bến tàu. Việc tích hợp di sản công nghiệp vào chiến lược phát triển dài hạn giúp Docklands duy trì bản sắc cảng lịch sử, đồng thời tạo ra một cảnh quan đô thị mới mang tính biểu tượng của London hiện đại. 

ThS-KTS. Nguyễn Vũ Mai Hân trình bày tham luận tại tọa đàm.


Qua Hà Lan, các nhà kho, xưởng đóng tàu và cầu cảng được tái sử dụng thành bảo tàng, trung tâm nghệ thuật và không gian công cộng mở, tạo nên một tuyến cảnh quan liên tục dọc mặt nước. Việc giữ lại vật liệu công nghiệp, cấu trúc thép và hình thái cảng truyền thống giúp khu vực duy trì bản sắc lịch sử, đồng thời tạo ra một không gian đô thị hấp dẫn, kết nối chặt chẽ giữa di sản công nghiệp và đời sống đương đại.

Ở Canada (dự án Montréal Old Port), các nhà kho, bến tàu và cơ sở công nghiệp ven sông St. Lawrence được chuyển đổi thành bảo tàng, không gian sự kiện và tuyến đi bộ ven sông nhưng vẫn giữ lại cấu trúc công nghiệp đặc trưng như cần cẩu và nhà kho đá. Sự kết hợp này tạo ra một cảnh quan đô thị vừa giàu tính lịch sử vừa đáp ứng nhu cầu đương đại, đồng thời duy trì vai trò của di sản công nghiệp trong bản sắc đô thị Montréal.

Ở Trung Quốc, khu ven sông Thượng Hải (tạm dịch từ Shanghai Waterfront), đặc biệt là khu vực Bund và các bến cảng dọc sông Hoàng Phố, cho thấy cách tái thiết cảnh quan ven sông gắn với bản sắc đô thị cảng. Các công trình công nghiệp và thương mại cũ được bảo tồn và tích hợp vào tuyến không gian công cộng ven sông, tạo nên một cảnh quan liên tục kết hợp giữa kiến trúc lịch sử và thiết kế đô thị hiện đại, đồng thời trở thành một điểm nhấn cảnh quan quan trọng của thành phố. 

Cầu tàu Ba Son. Ảnh tư liệu.


Quay lại với TP.HCM. Theo nhóm tác giả, giá trị di sản công nghiệp ven sông được nhận dạng dựa trên 3 tiêu chí. Một là giá trị cảnh quan. Các khu vực như Ba Son, Khánh Hội, Nhà Rồng, bến Bình Đông hay Tàu Hủ - Bến Nghé tạo nên một cấu trúc không gian tuyến tính liên tục dọc sông Sài Gòn và hệ thống kênh rạch, trong đó mặt nước đóng vai trò trục tổ chức chính của cảnh quan. Sự hiện diện của cầu cảng, kho bãi, xưởng cơ khí, bến ghe và tuyến giao thông thủy - bộ đã hình thành một cảnh quan công nghiệp - hàng hải đặc trưng, nơi các yếu tố vật chất và hoạt động tàu thuyền cùng tạo nên hình ảnh đô thị cảng. Đây là dạng cảnh quan động, giàu tính biểu tượng, phản ánh tiến trình phát triển đô thị qua chính hình thái không gian của nó.

Hai là giá trị lịch sử. Di sản công nghiệp ven sông là chứng tích quan trọng của quá trình hình thành và phát triển đô thị cảng Sài Gòn từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX, phản ánh sự chuyển đổi từ thương cảng truyền thống sang đô thị công nghiệp hiện đại, thể hiện qua vật liệu, kỹ thuật xây dựng và tổ chức không gian đặc trưng của thời kỳ thuộc địa và hậu thuộc địa. Những công trình như Ba Son hay Khánh Hội từng là hạ tầng kinh tế chủ lực, gắn với hoạt động xuất nhập khẩu và giao thương quốc tế, góp phần định hình vị thế của Sài Gòn như một trung tâm thương mại lớn của khu vực. Giá trị lịch sử của các di sản này nằm ở khả năng lưu giữ các lớp ký ức đô thị, cho phép nhận diện tiến trình phát triển của thành phố thông qua sự thay đổi của cảnh quan công nghiệp ven sông.

Ba là giá trị xã hội - văn hóa. Cảnh quan công nghiệp ven sông gắn liền với đời sống cộng đồng sông nước, nơi hình thành các tập quán sinh hoạt và giao thương đặc thù. Các khu vực như bến Bình Đông và Tàu Hủ - Bến Nghé từng là không gian của cộng đồng thương hồ, nơi cư dân sinh sống trên thuyền, buôn bán nông sản và duy trì các hình thức văn hóa dân gian như lối hò đối đáp, tiếng rao hàng hay nhịp chèo ghe. Những yếu tố phi vật thể này phản ánh mối quan hệ mật thiết giữa con người và dòng sông, tạo nên bản sắc sông nước độc đáo của đô thị cảng Sài Gòn. 

Cảnh quan sông Sài Gòn với dấu tích của nhiều di sản đã mất và đang tiếp tục đối diện nguy cơ bị xâm hại: xưởng đóng tàu Ba Son, bến Nhà Rồng, cảng Khánh Hội, bến đò Thủ Thiêm,… Ảnh: Nhật Thịnh


Ba nhóm giá trị trên cũng là trụ cột trong định hướng bảo tồn thích ứng mà nhóm tác giả khuyến nghị. Bảo tồn dựa trên giá trị cảnh quan nhấn mạnh việc duy trì tính liên tục của không gian ven sông, bảo vệ các yếu tố hình thái công nghiệp - hàng hải đại diện và đảm bảo sự hiện diện của mặt nước như trục tổ chức cảnh quan chủ đạo. Bảo tồn dựa trên giá trị lịch sử hướng đến việc giữ lại các công trình tiêu biểu, tái sử dụng cấu trúc công nghiệp cũ và tích hợp các lớp lịch sử vào thiết kế đô thị mới nhằm duy trì khả năng đọc hiểu lịch sử qua không gian. Bảo tồn dựa trên giá trị xã hội - văn hóa tập trung vào việc duy trì hoặc tái hiện các hoạt động cộng đồng gắn với sông nước, bảo tồn các yếu tố phi vật thể như lối hò đối đáp, tập quán thương hồ và tạo điều kiện để cộng đồng tiếp tục tương tác với dòng sông trong đời sống đô thị. 

Biệt thự cổ: Lệch ph quản lý và nhu cầu sử dụng

Nhà cổ, biệt thự cổ là một cấu phần trong di sản đô thị TP.HCM. Quá trình biến đổi không gian đô thị TP.HCM đang tạo ra sức ép ngày càng lớn đối với những công trình được xây dựng trước năm 1975 khi chúng đồng thời mang giá trị lịch sử, kiến trúc, văn hóa và là tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của cá nhân. Nhu cầu cải tạo, chuyển đổi công năng và khai thác giá trị kinh tế của chủ sở hữu là tư nhân có thể xung đột với yêu cầu bảo tồn, đặc biệt khi giá trị đất đai tại các khu vực có lịch sử lâu đời ngày càng gia tăng.

Tiếp cận vấn đề từ chuyển đổi nhà ở và biệt thự cổ trong quá trình biến đổi không gian đô thị TP.HCM, từ nhu cầu sử dụng đến bảo tồn thích ứng, TS. Võ Thanh Tuyền (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM) và đồng tác giả là học viên cao học Trần Thị Phương Thanh, cho biết nghiên cứu nhằm đề xuất khung tiếp cận gồm xác định giá trị, đánh giá khả năng thích ứng, phân cấp mức độ can thiệp và lựa chọn phương thức khai thác phù hợp. Kết quả hướng tới quan điểm bảo tồn không phải là “lồng kính, trưng bày công trình” mà là quản lý sự thay đổi để nhà ở và biệt thự cổ tiếp tục được sử dụng, tạo giá trị kinh tế và duy trì giá trị cốt lõi của di sản.

TS. Võ Thanh Tuyền (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM), chia sẻ tại tọa đàm.


Học viên cao học Trần Thị Phương Thanh, với thâm niên hơn 10 năm công tác trong lĩnh vực quản lý đô thị, hiện đang công tác tại Phòng Kinh tế - Hạ tầng - Đô thị phường Linh Xuân, chia sẻ nhiều thông tin từ kinh nghiệm thực địa. Pháp luật quy định chủ sở hữu không phải xin giấy phép khi tiến hành sửa chữa nhà ở mà không làm thay đổi chiều cao, diện tích công trình. Nhưng thực tế là sau khi sửa chữa, nhiều công trình xuất hiện những hạng mục cơi nới ảnh hưởng đến giá trị di sản.

Cũng không ít trường hợp chủ sở hữu tư nhân chủ động “hạ giải” công trình trước khi nó được đưa vào danh mục kiểm kê. Chủ sở hữu tư nhân có lý do để không mặn mà, sẵn lòng hợp tác với cơ quan quản lý nhà nước. Chỉ cần căn nhà bị đưa vào danh mục kiểm kê là ngay lập tức chủ sở hữu bị hạn chế quyền đối với tài sản của mình, dẫn đến giảm giá trị tài sản (khi chuyển nhượng), chưa kể có thể bị hạn chế khai thác, cải tạo phục vụ nhu cầu sinh hoạt.

Thêm nữa, nhà cổ, biệt thự cổ xây dựng trước năm 1975 hầu hết đã xuống cấp, ảnh hưởng đến chất lượng công trình và nhu cầu sử dụng. Trong khi những biệt thự giao cho cơ quan nhà nước quản lý sử dụng được cấp ngân sách duy tu, bảo dưỡng thì chủ sở hữu tư nhân chưa được hưởng cơ chế này. Không giải quyết được bài toán hài hòa lợi ích giữa các bên liên quan, di sản là nhà cổ, biệt thự cổ sẽ tiếp tục bị hao hụt. 

Một căn biệt thự cổ tại TP.HCM trước khi được trùng tu.


Không xuất hiện tại cuộc tọa đàm nhưng phần lớn thảo luận đều có dấu vết của những nhà đầu tư bất động sản đổ bóng xuống di sản cảnh quan đô thị. Chủ thể này cũng chính là nhân tố thứ tư mà TS. Nguyễn Thị Hậu - Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử TP.HCM - cho biết đã chủ động bổ sung vào công trình nghiên cứu của mình được tái bản năm 2019.

“Những nhà đầu tư có khi được nhìn nhận góp phần phát triển đô thị nhưng ở một cực khác, họ cũng phá nhiều di sản đô thị”, bà Hậu nói. Hài hòa lợi ích giữa mục tiêu lợi nhuận của nhà đầu tư và trách nhiệm bảo tồn di sản đòi hỏi nghĩa vụ điều phối của chính quyền và nhà quản lý - nhân tố có quyền nhận diện di sản và ban hành chính sách. Những nhà khoa học gồm chuyên gia trong lĩnh vực quy hoạch, kiến trúc, lịch sử, xã hội học… là nhân tố thứ ba, không chỉ thảo luận trực tiếp với chính quyền mà còn lan tỏa tri thức, kiến thức chuyên môn để nâng cao nhận thức xã hội về bảo tồn di sản. Nhưng dù bảo tồn di sản bền vững là cuộc đối thoại giữa 4 nhân tố: nhà nước, nhà đầu tư, nhà khoa học và cộng đồng trên cơ sở bình đẳng về vị thế, nhưng trên thực tế, nhà nước và nhà đầu tư hiện vẫn có vị thế quyết định.

Những ý kiến xác đáng của chuyên gia và cộng đồng không phải lúc nào cũng được những nhà làm chính sách lắng nghe. Nhưng không vì thế mà im lặng mỗi khi di sản đứng trước rủi ro bị xâm hại - nói như TS. Nguyễn Thị Hậu - “nhà khoa học và cộng đồng chẳng có gì ngoài tiếng nói”. 

ThS-KTS. Nguyễn Vũ Mai Hân - Trường Đại học Kiến trúc TP.HCM: “Các khu vực như cảng Khánh Hội và bến Bình Đông được xác định là những không gian có giá trị cao, vừa mang tính đại diện cho hình thái công nghiệp - thương nghiệp truyền thống, vừa lưu giữ các lớp giá trị xã hội - văn hóa đặc thù của cộng đồng thương hồ. Ngược lại, những khu vực đã bị xóa sổ như Ba Son hoặc biến đổi mạnh như Nhà Rồng - Khánh Hội mở rộng được đánh giá là có giá trị lịch sử nhưng tính nguyên gốc thấp, cần được bảo tồn thông qua các hình thức tái hiện ký ức đô thị hoặc tích hợp yếu tố lịch sử vào thiết kế cảnh quan mới”.

Khuê Anh lược ghi - Ảnh: Trung Dũng

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm
Cùng chuyên mục
Xem nhiều nhất

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.