LTS: Từ ngày 7–26.9, Thành phố Hà Nội tổ chức lấy ý kiến nhân dân về phương án Điều chỉnh Quy hoạch khu vực hồ Hoàn Kiếm và phụ cận. Các thông tin đăng tải về phương án quy hoạch này đã thu hút được sự quan tâm mạnh mẽ với những tranh luận đa chiều từ công chúng. Để góp một tiếng nói chuyên môn cũng như thực hiện trách nhiệm công dân với một công việc quan trọng của thành phố, thông qua Người Đô Thị, PGS-TS. KTS Phạm Thúy Loan, nguyên Phó Viện trưởng Viện Kiến trúc Quốc gia, Chuyên viên Quy hoạch Chiến lược, TP. Campbelltown, Úc đã có bài viết với những ý kiến phản biện từ góc độ bảo tồn bền vững các khu vực đô thị lịch sử, cụ thể là cách ứng xử với không gian đặc biệt như Hồ Gươm.

Giá trị của Hồ Gươm không nằm ở một công trình riêng lẻ, mà ở sự cộng hưởng của mặt nước, cây xanh, kiến trúc, ký ức và đời sống đô thị. Ảnh: Internet
Hồ Gươm và không gian phụ cận là một cảnh quan đô thị lịch sử có tính độc nhất
Trước tiên, cần khẳng định Hồ Gươm và không gian phụ cận là một cảnh quan đô thị lịch sử có tính độc nhất, nơi các giá trị tự nhiên, lịch sử, văn hóa, kiến trúc, cảnh quan, không gian công cộng và đời sống đô thị đã được tích lũy và tương tác qua nhiều thế kỷ.
Hồ Gươm không chỉ là một địa danh nổi tiếng mà đã trở thành một biểu tượng của Hà Nội và Việt Nam, hiện diện sâu sắc trong ký ức, văn hóa và đời sống của nhiều thế hệ. Vì vậy, cần nhấn mạnh là trước mọi quyết định cải tạo, tái cấu trúc, hạ giải hay xây dựng mới, chúng ta phải nắm bắt được thấu đáo những giá trị nào làm nên bản sắc, tính độc nhất hay hồn nơi chốn của không gian Hồ Gươm, và làm thế nào để phát triển đương đại không làm mất đi những giá trị đó? Đây phải là câu hỏi đi trước mọi quyết định về tái cấu trúc không gian, hạ giải công trình hay xây dựng mới.
Giá trị tổng thể, chứ không phải tổng các giá trị đơn lẻ: Hồ Gươm không đặc biệt chỉ vì có mặt hồ, cây xanh, các di tích hay những công trình kiến trúc đẹp. Giá trị của nó nằm ở sự kết hợp không thể lặp lại giữa mặt nước và cảnh quan tự nhiên; các di tích như Đền Ngọc Sơn, Tháp Rùa, Tháp Bút, cầu Thê Húc; cây xanh, vườn hoa, các không gian mở; sự kết nối với khu Phố cổ và khu phố Pháp; mạng lưới đường phố; sự tập trung các công trình công cộng quan trọng: hành chính, văn hóa, thương mại dịch vụ; các hoạt động văn hóa, kinh tế, xã hội đa dạng và đậm đặc; các ký ức, truyền thuyết và biểu tượng của Hà Nội; và thú vị nữa chính là đời sống thường nhật của người dân.
Không một thành phần riêng lẻ nào có thể đại diện cho Hồ Gươm. Chính mối quan hệ giữa các thành phần mới tạo nên giá trị của nơi chốn. Vì vậy, Hồ Gươm cần được đánh giá ở cấp độ “nơi chốn” (place), chứ không chỉ ở cấp độ công trình (building).
Vì vậy nếu đánh giá hiện trạng chỉ dừng ở liệt kê các công trình chính trong khu vực với các thông tin sơ sài thì hoàn toàn chưa đủ: chưa đủ để nhận định đầy đủ giá trị và ý nghĩa của từng công trình, chứ chưa nói đến việc nắm bắt giá trị tổng thể và “quan hệ hữu cơ” giữa từng thành phần với nơi chốn.
Bề dày thời gian và các lớp lang lịch sử: Không gian Hồ Gươm có thể được nhìn nhận như một “palimpsest đô thị” – một nơi lịch sử được viết tiếp qua nhiều thời kỳ. Các lớp chính gồm: cảnh quan tự nhiên; lịch sử – văn hóa và ký ức; đô thị truyền thống; đô thị thời Pháp; Hà Nội thời kỳ XHCN; và Hà Nội đương đại.
Các lớp này không tồn tại tách biệt mà cùng tạo nên câu chuyện liên tục của Hồ Gươm. Giá trị của nơi chốn vì vậy không nằm ở việc tái tạo một thời điểm cụ thể trong quá khứ, mà ở khả năng để người ta nhận biết và cảm nhận nhiều lớp lịch sử cùng tồn tại.

Không một thành phần riêng lẻ nào có thể đại diện cho Hồ Gươm. Giá trị của nơi chốn được tạo nên từ quan hệ giữa mặt nước, di tích, cây xanh, không gian mở, kiến trúc và đời sống đô thị. Ảnh: Internet
Một sự cân bằng đặc biệt: Bản sắc Hồ Gươm được tạo nên bởi một sự cân bằng rất tinh tế giữa tự nhiên và xây dựng, tĩnh và động, lịch sử và đương đại, chính quy và đời sống phi chính quy.
Mặt nước và cây xanh tạo nên một khoảng trống đô thị đặc biệt: mở nhưng không trống rỗng, yên tĩnh nhưng không tách biệt, tự nhiên nhưng nằm giữa đô thị, có tính biểu tượng nhưng vẫn gần gũi và đời thường.
Sự cân bằng còn thể hiện qua quy mô tương đối tiết chế của các công trình lấp ló sau hàng cây; sự tồn tại của nhiều lớp thời gian và nhịp sống biến đổi tự nhiên theo thời điểm trong ngày, các ngày trong tuần và các sự kiện trong năm.
Sự cân bằng còn thể hiện ở ‘human scale’ của cảnh quan và công trình đối với kích thước con người, khi tất cả đều vừa vặn, đủ để năng lực sinh học của mắt có thể bao quát cả tổng thể không gian lẫn các chi tiết; đủ để thấy gần gũi, yêu mến và thuộc về.
Vì vậy, nếu tái cấu trúc làm gia tăng quá mức quảng trường cứng, công trình biểu tượng, thương mại, không gian ngầm và hoạt động sự kiện, cần đánh giá liệu sự cân bằng vốn có của Hồ Gươm có bị phá vỡ hay không. Một quảng trường lớn hơn không đương nhiên tạo ra một không gian công cộng tốt hơn. Một không gian có nhiều chức năng hơn không đương nhiên tạo ra một nơi chốn có giá trị hơn.

Một không gian, nhiều lớp thời gian. Giá trị của Hồ Gươm nằm ở khả năng để lịch sử Hà Nội được đọc thấy trong sự cùng tồn tại của các lớp cũ và mới. Ảnh: Airial
Sự duyên dáng đến từ đặc tính “hữu cơ” (organic) của không gian: Hồ Gươm không có hình dạng hình học rõ ràng, cũng không được tổ chức bởi những trục hay bố cục đăng đối, mà hình thành một cấu trúc hữu cơ và tự nhiên. Hệ thống cây xanh lâu đời và đa dạng – từ cây gạo, vông, lộc vừng, liễu, phượng đến sấu – cùng các công trình kiến trúc khác nhau về niên đại, phong cách và vị trí tạo nên một tổng thể cảnh quan sống động và gần gũi.
Chính sự đa dạng và hữu cơ, khác với những không gian dạng tuyến, trục, đăng đối kiểu áp lực hình học tạo nên vẻ duyên dáng và độc đáo của Hồ Gươm. Dù không tuân theo những nguyên tắc tổ chức cứng nhắc, không gian nơi đây vẫn có sự mạch lạc, cân bằng và một mức độ bất ngờ, bí ẩn đủ để khơi gợi sự khám phá và không nhàm chán.
Vì vậy, việc áp đặt khiên cưỡng các ngôn ngữ hình học như trục, tuyến, hình tròn hay hình vuông lên không gian hữu cơ của Hồ Gươm không chỉ làm thay đổi hình thức cảnh quan, mà còn có nguy cơ phá vỡ chính cấu trúc không gian và bản sắc đã làm nên giá trị đặc biệt của nơi này.
Một không gian “dung chứa” (inclusive) tuyệt vời: Hồ Gươm không chỉ là điểm đến du lịch hay “biểu tượng của Thủ đô”. Đó là một không gian công cộng dân sự, nơi nhiều thế hệ đã đi bộ, gặp gỡ, nghỉ ngơi, tập thể dục, trò chuyện, tham gia hoạt động văn hóa và hình thành ký ức.
Sự hiện diện của nhiều nhóm người – người Hà Nội, du khách, người nhập cư, người lao động và các hoạt động phi chính thức – tạo nên tính dung chứa đặc biệt của nơi chốn này. Ai cũng thấy mình thuộc về nơi ấy. Việc “được ở đó”, “được sử dụng nơi đó” và “có ký ức ở đó” là một thuộc tính có ý nghĩa xã hội sâu sắc của nơi này.
Bốn yếu tố trên – giá trị tổng thể, các lớp lịch sử, cân bằng và tính dung chứa – chưa chắc đã bao quát hết bản sắc Hồ Gươm, nhưng cho thấy bản sắc của nơi đây là một hệ thống quan hệ không thể đơn giản thay thế bằng thiết kế mới.

Không gian Hồ Gươm vừa mang tính biểu tượng vừa gần gũi với đời sống thường nhật. Quy mô của cảnh quan và công trình vẫn đủ để con người cảm nhận mình là một phần của nơi chốn. Ảnh: 24h
Hồ Gươm không cần được “làm cho đẹp hơn” bằng cách tạo ra một Hồ Gươm mới
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra các quan điểm quy hoạch cũng như phản biện quy hoạch như sau:
Thứ nhất, “hồn nơi chốn” của Hồ Gươm là một giá trị không thể thay thế bằng thiết kế mới: Một công trình mới có thể đẹp, một quảng trường mới có thể hiện đại, một không gian công cộng mới có thể tiện nghi. Nhưng không thể bằng thiết kế mới mà tạo ra ngay lập tức bề dày lịch sử, ký ức cộng đồng và ý nghĩa văn hóa đã tích lũy qua nhiều thế hệ.
Vì vậy, trước khi can thiệp vào không gian này, dù là gì đi nữa cần phải đặt trong câu hỏi “Liệu việc này có làm cho Hồ Gươm vẫn được nhận diện và cảm nhận là Hồ Gươm hay không?”
Thứ hai, cần đánh giá “tính toàn vẹn của nơi chốn” trước mọi quyết định tái cấu trúc: Đối với Hồ Gươm, cần có một tầng đánh giá vượt lên trên từng công trình – có thể gọi là Heritage Significance and Place Identity Assessment cho toàn bộ khu vực. Đánh giá cần xem xét tối thiểu: giá trị lịch sử, cảnh quan, kiến trúc, cấu trúc đô thị, các lớp lịch sử, tầm nhìn, giá trị xã hội và ký ức cộng đồng. Chỉ trên cơ sở đó mới có thể xác định cái gì cần bảo vệ, cái gì có thể thay đổi và giới hạn của sự thay đổi nằm ở đâu.

Hồ Gươm không phải một “bức ảnh” của quá khứ được giữ nguyên. Đây là một không gian lịch sử liên tục được viết tiếp, trong đó mỗi thời kỳ để lại dấu vết của mình. Ảnh: Tư liệu 1953
Thứ ba, áp dụng nguyên tắc “bảo tồn trước – thích ứng sau – thay thế cuối cùng”: Theo Hiến chương Washington, cần xác định rõ công trình nào phải được bảo tồn, công trình nào có thể bảo tồn trong những điều kiện nhất định và chỉ trong hoàn cảnh đặc biệt mới xem xét loại bỏ; đồng thời phải lập hồ sơ hiện trạng trước khi can thiệp.
Do đó, thứ tự ưu tiên cần là: Bảo tồn và bảo trì → Cải tạo và thích ứng → Tích hợp cũ và mới → Hạ giải chỉ khi chứng minh được các phương án trên không khả thi.
Hạ giải không nên trở thành giải pháp mặc định chỉ vì một công trình không phù hợp với ý tưởng tái cấu trúc mới.
Thứ tư, “hạ giải” (thực ra là phá bỏ) một công trình có thể làm mất nhiều hơn chính công trình đó: Đối với mỗi công trình, cần xem xét không chỉ giá trị kiến trúc mà cả: giai đoạn lịch sử mà công trình đại diện; cấu trúc không gian mà nó tham gia; các trục nhìn và quan hệ cảnh quan; chức năng xã hội; ký ức cộng đồng; lớp lịch sử sẽ mất đi nếu công trình bị hạ giải.
Một công trình có thể không phải là “di tích” theo nghĩa hẹp nhưng vẫn có thể là một thành phần quan trọng của cấu trúc, tính xác thực và bản sắc của khu đô thị lịch sử.
Do đó, việc đề xuất phá bỏ Bưu điện Hà Nội, Cung Thiếu nhi và trụ sở HĐND–UBND là một sai lầm nghiêm trọng. Đây không đơn thuần là việc thay thế một số công trình hiện hữu, mà là sự can thiệp làm tổn hại đến cấu trúc ký ức, bản sắc và giá trị tổng thể của không gian Hồ Gươm.

Một thiết kế mới có thể tạo ra hình thức đẹp và tiện nghi, nhưng không thể tạo ra ngay lập tức bề dày lịch sử, ký ức cộng đồng và ý nghĩa văn hóa của một nơi chốn đã được tích lũy qua nhiều thế hệ. Ảnh: Internet
Thứ năm, xóa một lớp lịch sử hiện hữu để “tái hiện” một lớp lịch sử khác là một nghịch lý cần đặc biệt tránh: Đây là vấn đề cần xem xét trong phương án hiện nay, khi nghiên cứu hạ giải một số công trình tại khu vực Bưu điện Hà Nội đồng thời nghiên cứu gợi nhắc, tái hiện hình ảnh và hình thái Chùa Báo Ân. “Tái hiện hình ảnh lịch sử” không thể được đánh đồng với “bảo tồn di sản lịch sử”.
Giá trị của Hồ Gươm không nằm ở việc nó giống một thời điểm nào đó trong quá khứ, mà ở khả năng để người ta đọc được lịch sử Hà Nội qua nhiều lớp thời gian cùng tồn tại.
Không nên hy sinh một lớp lịch sử đang tồn tại để tái hiện một hình ảnh lịch sử đã mất.
Thứ sáu, đối với công trình mới, tiêu chí quan trọng nhất không phải là “đẹp” mà là “hài hòa với nơi chốn”: Công trình mới không nên chỉ được đánh giá bằng hình thức kiến trúc, vật liệu, chất lượng thiết kế hay chiều cao. Cần đánh giá cả tác động đến: hồn nơi chốn – tính liên tục lịch sử – khả năng đọc các lớp lịch sử – khoảng trống và mặt nước – trục nhìn – tỷ lệ người và không gian – đời sống công cộng.
Một công trình kiến trúc xuất sắc vẫn có thể không phù hợp nếu nó làm thay đổi bản chất của nơi chốn. Ở khía cạnh này, các nội dung mới của đồ án như khải hoàn môn, bảo tàng mới, quảng trường thời đại, trụ sở HĐND-UBND đề xuất mới đều có quy mô và hình thức không phù hợp với bối cảnh.

Một công trình có thể không phải di tích theo nghĩa hẹp nhưng vẫn là một thành phần của cấu trúc, ký ức và bản sắc đô thị lịch sử. Vì vậy, đánh giá để hạ giải cần vượt ra ngoài câu hỏi công trình có “đẹp” hay “đáng giữ” hay không. Ảnh: UBND TP. Hà Nội
Hồ Gươm không cần được “làm cho đẹp hơn” bằng cách tạo ra một Hồ Gươm mới. Điều cần thiết hơn là làm cho những giá trị vốn đã làm nên Hồ Gươm được nhận diện rõ hơn, được bảo vệ tốt hơn và được truyền lại cho các thế hệ sau.
Một đô thị lịch sử có thể thay đổi, nhưng sự thay đổi phải làm cho lịch sử tiếp tục được đọc, được cảm nhận và được sống, chứ không làm lịch sử biến mất rồi thay thế bằng những hình ảnh mới về lịch sử.
Tính độc nhất của Hồ Gươm không nằm ở bất kỳ một công trình riêng lẻ nào. Nó nằm ở sự cộng hưởng của cảnh quan, mặt nước, kiến trúc, cấu trúc đô thị, ký ức, văn hóa và đời sống đã được tích lũy qua nhiều thế kỷ.
PGS-TS. KTS Phạm Thúy Loan